Đoàn kết
45 năm nh́n
lại
Đến bây
giờ dù đă 45 năm trôi qua, mỗi lần nghĩ đến
quân trường Thủ Đức ḷng chúng ta vẫn bâng
khuâng nhớ đến một thời trai trẻ đầy
nhiệt huyết với quê hương đất nước.
Với t́nh bạn bốn phương quy tụ về dưới
mái trường, biết bao nhiêu vui buồn thao luyện. Kể
từ 07-10-1959
thắm thoát trôi qua đă đến ngày măn khóa 28 tháng 11 năm
1960. Chúng ta lại chia tay về phục vụ khắp bốn
vùng chiến thuật. Măc dầu hằng năm có họp
khóa, nhưng v́ công vụ hoặc việc cá nhân riêng tư nên
hiếm gặp nhau trọn vẹn, có bạn suốt 45 năm
qua vẫn hiện hữu nhưng không hề biết nhau. Và
do đó việc hiểu biết cũng có phần sai khác, từng
góc độ.
NH̀N LẠI TRƯỜNG KHÓA
Ngày 5-6-1948 Việt Nam được
thừa nhận là một quốc gia độc lập
trong khối liên hiệp Pháp. Quốc Trưởng là cựu
hoàng Bảo Đại, do hiệp ước vịnh Hạ
Long. Ngày 8-3-1949
Việt Nam
được xây dựng một quân đội lấy tên
là Quân Đội Quốc Gia. Ngày 23-12-1950 Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ kư hiệp
định hổ tương pḥng thủ và viện trợ.
Cùng ngày nghị định thành lập trường Sĩ quan
trừ bị Thủ Đức ở miền Nam và Nam Định ở miền
Bắc. Khóa đầu tiên Thủ Đức khai giảng năm
1951. Từ 1951-1954 do Sĩ quan và huấn luyện viên người
Pháp điều hành, sang năm 1955 do Sĩ quan và huấn luyện
viên người Việt Nam điều khiển cho đến
ngày đất nước bị phản bội bỏ rơi
vào tay Cộng quân ngày 30-4-1975 với khóa cuối cùng là 3/75.
Theo đà lớn
mạnh của quân đội, năm 1957 quân trường
Thủ Đức có nhiệm vụ đào tạo đủ
các quân binh chủng: Bộ binh, Thiết giáp, Pháo binh, Công
binh, Truyền tin, Quân cụ, Thông vận binh và Quân chính với
danh xưng là Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức. Về
sau các trường tách riêng và dời đi các địa điểm
khác nhau, Thủ Đức chỉ thuần túy đào tạo
Sĩ quan Bộ binh.
Chỉ Huy Trưởng: Sơ
khởi thành lập do người Pháp, Thiếu tá Buoillet tại
Thủ Đức và Trung tá challondor tại Nam định. Sau chuyển
giao cho Việt Nam: 1/Đại tá Phạm văn Cảm
2/Thiếu tướng Lê văn Nghiêm 3/Thiếu tướng
Nguyễn văn Chuân 4/Thiếu tướng Hồ văn Tố
5/Đại tá Phan đ́nh Thứ tự Lam Sơn 6/Trung tướng
Trần ngọc Tám 7/Thiếu tướng Bùi hữu Nhơn
8/Trung tướng Trần văn Trung 9/Thiếu tướng
Lâm quang Thơ 10/Thiếu tướng Phạm quốc Thuần
11/Trung tướng Nguyễn vĩnh Nghi 12/Trung tướng
Nguyễn văn Minh, chỉ huy trưởng cuối cùng là Đại
tá Trần đức Minh
Sau 25 năm hoạt động, đă đào
tạo cho quân đội 55.000 Sĩ quan và chúng ta cũng xin
cúi đầu tưởng niệm trên 5.000 Sĩ quan anh dũng
hy sinh trên chiến trường khắp bốn vùng chiến
thuật.
Theo gịng thời gian và nhu cầu quân sự của
đất nước khóa 9 (Đoàn kết) được
khai giảng vào ngày 7-10-1959.
Lúc bấy giờ Chỉ huy trưởng trường Thiếu
tướng Lê văn Nghiêm, Chỉ huy Phó Trung tá Nguyễn đức
Thắng,Trưởng khối quân huấn Thiếu tá Vĩnh
Biểu.
Cán bộ khóa sinh: TĐT Đại úy Hoàng, ĐĐT
Trung úy Kỳ- Trung úy Phục, TrĐT Chuẩn úy Thanh, Tiến, Luy, Lượng, Huệ,
Trầm và Trung úy Vàng . . .
Huấn Luyện Viên: Trung úy Tôn Thất Liêu
(ban Đại cương), Đại úy Đại (ban Địa
h́nh), Trung úy Thức , Thịnh (Chiến thuật) Trung úy Trực
(Vũ khí) . . .
Sinh viên sĩ quan: Nhập khóa trên 300, khi ra
trường chỉ c̣n 280 tốt nghiệp cấp bậc
Chuẩn úy. Thời gian huấn luyện là 24 tuần
lễ, chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn I: căn
bản tác chiến. Giai đoạn II: phần chuyên môn binh
chủng. Khóa IX được phân phối các binh chủng
như sau: Bộ binh, Nhảy dù, Thủy quân lục chiến,
Biệt động quân, Truyền tin, Thông vận binh, Quân cụ,
Pháo binh, Quân nhu; không có Thiết giáp và Công binh. Sau khi măn khóa có
nhiều bạn được tuyển qua quân chủng Hải
quân và Không quân.
Có 40 sinh viên Địa
Phương Quân theo học khi tốt nghiệp mang cấp
bậc Thiếu úy Địa Phương Quân.
Về phần chuyên môn tôi đă đi qua: Trường
Pháo binh tọa lạc tại tỉnh Thủ dầu một
(B́nh dương).Lúc bấy giờ Chỉ huy trưởng:
Thiếu tá Hồ nhựt Quan, Phụ tá quân huấn: Đại
úy Chung văn Xom. Cán bộ khóa sinh: Trung úy Xinh, Trung úy Hiếu
. . . Huấn luyện viên: Trung úy Tuấn (Địa h́nh),
Trung úy Thường, Trung úy Chương . . .(Tác xạ Đại
cương), Trung úy Dậu (Quân xa), Trung úy Tân (Chiến cụ
đạn dược), Trung úy Phả (Chiến tranh chính trị)
. . . Đại úy Khiêm (Chiến thuật).
Khóa sinh gồm có:
5 Thiếu úy vừa tốt nghiệp trường sĩ
quan hiện dịch Đà lạt, một Trung úy sĩ quan
chuyển ngành, 40 Chuẩn úy khóa I Đồng đế Nha
trang, khoảng 60 SVSQ/K9, 5 SVSQ/K8 cho học lại. Được thành lập 4 trung đội,
theo hệ thống tự chỉ huy, chức vụ được
tính theo điểm học tập hằng tháng. Liên đội
trưởng khóa học đầu tiên SVSQ Lương văn
Hoa, tháng kế tiếp SVSQ Trần phước Diễn, tháng
cuối cùng SVSQ Nguyễn thành Công.
Thi ra trường Chuẩn úy Lương văn
Hoa thủ khoa , ngày măn khóa 28-11-1960, ông Tổng trưởng
bộ Quốc pḥng Nguyễn đ́nh Thuần thay mặt Tổng
Thống Việt Nam Cọng Ḥa đặt tên cho khóa 9 là khóa
“ĐOÀN KẾT”
T̀NH THẦY TR̉
*Buổi học “Lănh đạo chỉ huy”đầu
tiên tại Thủ Đức, trên bục giảng Trung úy Liêu.
Đúng rồi thầy Tôn thất Liêu trước đây 6
năm là giáo viên lớp nhất trường tiểu học
Phú Vang-Huế. Có bàn tay sáu ngón (có ngón cái thừa), tính t́nh hoạt
bát, hay kể cho học tṛ nghe những trang anh hùng, yêu nước;
Ưa ca những bài ca chiến đấu. Thầy đă từ
giă chúng tôi ra đi theo lệnh động viên. Tôi nh́n thầy
ḷng xốn xang nhưng sợ vi phạm nội quy không dám chào
hỏi. Hôm chuẩn bị đi giai đoạn II, tôi ngang
qua khoa Đại cương, đưa tay chào: -Trung úy,tôi đi
Pháo binh. –Vâng, chiều đến nhà chơi, khu độc
thân, pḥng số . . .Khi đến nhà, Trung úy Liêu: -Cứ tưởng
em quên tôi rồi chứ -Đâu có, làm sao quên được,
nhận ra Trung úy từ giờ học đầu tiên, nhưng
sợ nội quy, bị phạt làm phiền anh, à Trung úy. –Tôi
cũng nghĩ thế, bây giờ đi Pháo binh cũng tốt,
nhưng coi chừng châm lắm đó. Điểm học của
em giai đoạn I yếu lắm, bết nhất là Cơ
bản thao diễn…Thời gian trôi qua, năm 1985 gặp lại
tại Sài g̣n một Tôn Thất Liêu thân tàng ma dại, thất
thiểu trong một ngơ hẽm. Qua câu chuyện được
biết: anh đi tù với cấp bậc Trung tá, khi ra về,
vượt biên vợ con đi lọt, anh năm lần bảy
lượt bị bắt, bây giờ sống vô gia cư với
nghề thầy bói bất đăc dĩ. Bất măn từ
chối sự giúp đỡ của người thân. Thật
oan uổn một kiếp người. Tôi bặt tin anh sau
lần gặp gỡ đó.
*Huấn luyện viên Vũ
xuân Trực, môn Địa h́nh và vũ khí, anh em ở nam Cali thường hay
lui tới chuyện tṛ. Đặc biêt có mời dư họp
khóa vào các năm 1997và năm
2000 v́ già yếu không đi đươc,thầy đă có
thư như sau:
“Thân gởi anh Hội trưởng
khóa 9 và toàn thể anh em. Rất cám ơn anh BẾ, hội
trưởng đă đến mời tôi tham dự đại
hội khóa 9, nhưng rất tiếc tôi bị mất thính
lực cả hai tai nên không thể nói chuyện đàm thoại
đối các quư anh chị em được. Cho tôi xin gởi
lời xin lỗi và cám ơn toàn thể quư anh chị em có ḷng
nhớ đến t́nh cũ nghĩa xưa. Tuy nhiên tôi hứa
nếu đến ngày đại hội tôi nghe được
trở lại. Tôi sẽ đến tham dự để ôn
lại các kỹ niệm cũ tại mái quân trường
VKTĐ ngày xưa nhớ tất cả các khuôn mặt thân
quen của những ngày xưa thân ái. Có chút quà nhỏ góp thực
hiện Đặc San khóa 9. Thầy Vũ Xuân Trực”
*Và sau đây là ư kiến của
một vị thầy cũ: Đại tá Đặng nguyên
Phả, khóa 4 VKTĐ
“. . .Tôi
đến với buổi hội v́ t́nh chiến hữu, t́nh
huynh đệ của những người cùng chung chiến
tuyến khi xưa.
Hồi tưởng lại
40 năm về trước, khi đó tôi đă là Trung úy Huấn
luyện viên th́ các chàng trai khóa 9 học ra trường. Tôi
dạy về Pháo binh cho khóa sĩ quan Thủ Đức từ
khóa 8 đến khóa 11. Cho nên, giờ đây v́ t́nh cũ nghĩa
xưa, các anh em Pháo binh khóa 9 Thủ Đức đă mời
tôi đến dự buổi họp mặt này.
Điểm mặt ngày hôm đó,
những sĩ quan pháo thủ Khóa 9 đến chung vui gồm
có Đinh văn Cương từ vùng Đông Bắc, Lê văn
Sanh từ Texas
và Trần phước Diễn tại đây. Người
nào cũng có “bà xă” đi theo để chia sẻ ngọt bùi.
Ngày hôm đó, ban tổ chức
đă đề cao công lao các chị, chờ chồng nuôi
con qua bài hát “Thủy chung, vẫn đợi anh về” thơ
Nguyễn Bế do Hoàng quang Huế phổ nhạc và phu nhân
anh Cương tŕnh bày, với những câu: “Chồng từ
biền biệt phương xa. Như chim găy cánh, hổ sa
lưới Mường. Với chồng trăm nhớ ngàn
thương, Với con thơ dại, trăm đường
âu lo.” . . . . . .
Tôi viết lá thư này để
nói lên những cảm xúc của tôi với những người
c̣n nhớ t́nh quê, vẫn nặng t́nh nhà và chưa quên t́nh
chiến hữu.
Để kết luận tôi
xin mượn những câu cũng trong bài của Nguyễn
Bế: “Ḍng thời gian cuốn trôi vào dĩ văng biết bao
kỷ niệm dạt dào của một thời đáng yêu
và đáng sống mà giờ đây c̣n lại chỉ có nhớ
và thương! Trong cái không gian mới và thời gian mới,
giờ đây, với quăng đời c̣n lại hăy mạnh
dạn vui sống, sống cho con cháu chúng ta để mai này
có một Việt Nam
rạng rỡ với nhiều nhân tài xuất chúng, xây đấp
nền Dân Chủ Tự Do mà cha ông chưa tṛn trọng trách.”
Vâng , tôi với các anh tuy chưa
làm tṛn chí trai thế hệ! Nhưng tôi có cùng tâm sự như
anh, hy vọng ở con em chúng ta sau này nên tôi đă viết:
Nh́n tương
lai ḷng đầy tin tưởng
Con em về
dựng lại quê hương
Cali ngày 27-12-99”
NH̀N LẠI BẰNG HỮU
*Nhớ lại: Tôi bước từ
chuyến xe đ̣ xuống cổng trường “Liên Trường
Vơ Khoa Thủ Đức” một ḿnh, v́ đi trễ với
tâm trạng sợ lính. Trung sĩ Lư Bâu đón vào, hướng
dẫn cách sinh hoạt: Đầu tiên là xuống tóc, vẫn
c̣n mặc thường phục, trông vẽ mặt ngây ngô,
lănh quân trang vũ khí, về pḥng xếp đồ. Khoảng
10 hay 11giờ ǵ đó tŕnh diện Chuẩn úy Hồ Tấn
Luy. Bận bộ đồ lính tây thụng thịnh đứng
đằng sau. Khi tan hàng, mấy đứa bạn vào trước
được dịp hù dọa. Gặp cái pḥng 1, trung đội
3, một tổ quỷ nào là Tôn thất Hiếu, Vũ quư Đản,
Lê văn Bằng “ĐM”, Đinh văn Cương, Liêm đen,
Châu nhốp, Châu đía . . .Xếp hàng đi ăn cơm, gặp
một cậu vạm vở, mắt lờ đờ, hất
hàm hỏi: -Mày đâu đến. -Tôi ở Nha trang. –Sao nói
tiếng Huế. –Vâng, tôi gốc Huế. –Mày theo tao, đừng
nghe mấy thằng đó, bọn thấy mày mới vào, chúng
nó hù mày đó. Trông anh này tướng đi giống anh chàng
bán hàng rong khi đội chiếc nón rộng vành. Nên lũ
quỷ cho cái tên cúng cơm “Tuấn phở”. Thế là tôi
theo Tuấn, bên cạnh lại có một anh bạn to con hơn
lúc nào cũng chậm răi, đắng đo, lũ quỷ cũng
phán cho danh hiệu “Duyên thợ mộc”. Ăn cơm xong, về
pḥng là lũ quỷ huyên thuyên không lúc nào vắng tiếng nói
đùa. Bọn xách tôi ra: Thằng mới vào trông tướng
lù khù giống thầy bói, thế là cả pḥng minh danh “Diễn
thầy bói”. Dạo đó đứa nào rồi cũng có một
biệt danh cả. Gọi nhau như vậy dễ nhận
diện xem như b́nh thường, vui vẽ. Ba đứa
chúng tôi thường ăn cơm chung bàn, thực tập cùng
toán, chia sẻ cùng nhau. Ngày gắn Alfa được đi
phép, chúng tôi lại đi chơi chung. Thỉnh thoảng cả
ba đứa lại say sưa cùng pḥng. Về cùng binh chủng
Pháo binh. Ra trường ít có nhịp găp nhau, thỉnh thoảng
gặp nhau tại Ság̣n vài lần. Có lần tôi và Tuấn về
Mỹ Tho thăm Duyên năm 1966, khi trở lại bị bắn
sẽ chạy trối chết. Cuộc chiến tàn nghe đâu
Tuấn đă từ giả cơi đời sau 1975. Hằng năm
tôi ở Garden Grove c̣n có cái may mắn
gặp lại Duyên ở San
Diego trong ngày họp khóa.
*Gặp
lại Lê văn Sanh, một thời cùng nhau nghịch ngợm
trên ghế nhà trương trung học Huế, trong giờ
học sử địa của thầy Cao hữu Triêm hay
giờ vạn vật của thầy Tùng “điên”. Ra trường,
ḿnh về đơn vị hành quân, bạn về tham mưu
Pháo binh Quân đoàn I.
Đến ngày đức phim, bạn vẫn được
sự thương yêu kính nễ của anh em trên dưới.
Cám ơn bạn, bất cứ lúc nào có cơ hội, bạn
vẫn thăm hỏi ḿnh, với lối đùa nghịch
như hồi trên ghế nhà trường. Cho đến bây
giờ, năm nào bạn cũng gọi điện thoại
đôi ba lần, không gặp mặt th́ để lời nhắn,
bạn không quên nhắc đến cái tên móc nôi của tôi, làm
cháu ngoại nhà tôi cứ đi theo ông xin quẻ. Hoạn nạn
nhất là bạn Nguyễn văn Phán và ư trung nhân cứ tưởng
như thật, cứ theo hỏi hoài, ḿnh từ chối cứ
tưởng thầy làm eo đ̣i “tiền quẻ”.
Nhắc
đến Mũ Xanh Nguyễn
Văn Phán, Tôi liên tưởng đến: “Huế,
Mậu Thân và tôi
“. . . . . .hơn 40 ngày, từ Vùng IV về giải
tỏa Sàig̣n rồi ra đây, không thấy mặt một
người đàn bà thật đàn bà, chỉ thấy toàn
máu, nước mắt và mồ hôi.
Tôi ra lệnh:
"Lộc
và Sự mỗi ông cho một toán 10 người băng
thật nhanh đến áp sát mặt Thành xong ngồi
xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai
toán thứ nhất để toán nầy, đôn lên mặt
Thành. Khi bám được mặt Thành th́ tác xạ tối
đa và bằng mọi cách giữ vũng vị trí trên
mặt Thành để làm đầu cầu".
Con cái
tôi hành động c̣n đẹp hơn tài tử xi nê.
Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên
Thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái
đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay.
Tiếng đạn và pháo địch vẫn mănh liệt
trên nóc Thành, phải khóa lại. Một chặn
đường xương máu đă vượt qua, bây
giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hănh
diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng:
Kỳ Đài Huế. Đây là nơi tượng trưng cho
Hồn Thiêng Dân Tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật
và 20 anh em tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn,
từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch
ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mă
Khện đánh chiếm Kỳ Đài. Địch bắn trả
rất rát. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và
thần tốc tiến vào Kỳ Đài. Phản ứng
của địch bắt đầu yếu, năm
giờ mười phút chiều, màu áo rằn ri TQLC đă
làm chủ Kỳ Đài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng
đầy hận thù c̣n trên không. Một anh em Lính rút đâu
trong người ra lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thật
lớn. Tôi gọi về Tiểu Đoàn:
"Tất
cả đă sạch sẽ, xin Thiếu tá cho tôi treo cờ
lên".
Tôi
nhớ rơ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:
"Một
người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất c̣n
sống sót cũng phải dựng lại ngọn Cờ
Vàng Ba Sọc Đỏ tại Phú Vân Lâu".
Trong
niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh hét
lớn: Thủy Quân Lục Chiến! Xong lấy hỏa châu
đập mạnh định bắn pháo bông lên trời
ăn mừng. Trong cơn say chiến Thắng, Hạnh xoay
ngược đầu hỏa châu vào ḿnh, hỏa châu
nổ xuyên bụng. Hạnh cười nói:
"Em
không sao Đại úy".
Phán
nghĩ thằng em nầy tỉnh táo quá, chắc nó
chết. Và nó chết thật.
Tiểu
Đoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy
chờ. Sau nầy tôi được nghe: "khi báo cáo
về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Chuẩn
Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến
dành vinh dự thượng kỳ cho Sư Đoàn 1. Sáng hôm sau
ngày 24 tháng 2 Phạm Văn Định dẫn một
đơn vị của Sư Đoàn 1 từ cửa
Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.
Nh́n lá
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới trên nền
trời màu xám của Huế, tôi hănh diện thật sự
v́ thằng con của Huế đă góp phần dựng
lại ngọn Cờ nầy. Trung úy Sự tŕnh tôi:
"Thằng
Hạnh chết, ḿnh c̣n 67 anh em".
Đại
đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày và sau bao
nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có ba mục tiêu:
Con đường, cửa Sập và Kỳ Đài mà bây giờ
chỉ c̣n 67 người.
Sáng hôm
sau tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu
vực cửa Đông Ba, nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngă
tư Anh Danh. BCH của tôi đóng tại một tiệm
cầm đồ, tiệm nầy có Tôn và Lưu cùng học
một lớp hồi c̣n nhỏ. Trong nhà không c̣n ai cả.
Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn
bè cũ. T́nh h́nh chưa được an ninh hoàn toàn
nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẫn nha hơn
trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và
cho lục soát tàn quân địch. Lính canh gát bắt về
một người đàn ông lớn tuổi, gầy
ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai
rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.
"Lệnh
giới nghiêm, đă mười một giờ đêm sao ông
này c̣n lang thang trên hè phố, em nghi quá", người lính
nói.
Tôi
sững sờ nh́n người đàn ông.
"Thầy
Cao Hữu Triêm! Trời ơi Thầy!"
Tôi
gọi mấy tiếng lớn mà Thầy vẫn không nghe,
Thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi
cầm tay mời Thầy ngồi:
"Con
là học tṛ cũ của Thầy đây".
Một
ánh mắt lạc lỏng xa vời:
"Ờ,
ờ sao con khoẻ không. Thầy mấy ngày nay chưa
ăn chi cả".
Lính tôi
kiếm cơm trắng và đĩa gà luộc về
mời Thầy xơi. Tụi nó c̣n kiếm được
một b́nh trà nóng mời Thầy. Sau một hồi
Thầy tỉnh táo, và cho biết: Cô và sắp nhỏ vào Đà
Nẵng, thằng con lớn chết rồi, Thầy không
muốn về nhà nữa. Rồi Thầy khóc, giọt
nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.
"Thôi
Thầy ở đây với con cho yên", tôi nói.
Lính của
tôi thay nhau hầu hạ Thầy ân cần, đến ngày
thứ tư Thầy đ̣i đi, tôi thu xếp để
Thầy vô Đà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức
của Thầy. Cầu mong Thầy được b́nh an.
Được
sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một
phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của
tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đă tạo
thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả
bọn giặc thù cộng sản để dựng
lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên Kỳ Đài
tượng trưng cho dân tộc Việt. Hai mươi ba
năm sau, hồi tưởng lại,máu và xương kia
đă theo gịng sông Hương Giang cuốn tôi và bằng
hữu ra biển bắt làm người biệt xứ.
Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Đô
đó, cũng Kỳ Đài đó, cho tôi được góp
một phần dựng lại ngọn cờ một
lần nữa để đền đáp ơn sâu
nghĩa nặng, nơi tôi đă sinh ra, nuôi tôi lớn lên và
cho tôi làm người trong ḷng Dân Tộc Việt Nam.”
*Tiếc thay Phán thanh toán chiến
trường, kẻ được cái vinh dự treo ngọn
cờ vàng trên Kỳ đài Phu Văn Lâu lại là Phạm văn
Đính, Hắc Báo, một thời oanh liệt của SĐIBB.
Sau hành quân Hạ Lào “Lam Sơn
719”, Đính được bổ nhiệm Trung Đoàn Trưởng
TrĐ56/BB. Đóng tại căn cứ Caroll(Cam
lộ, Quảng trị) t́nh h́nh quẩn bách, hắn đă đầu
hàng địch quân, trên đất Bắc hắn đă tuyên
bố lếu láo. Sau 1975, Cộng quân lại đưa hắn
vào trại lên lớp cho các sĩ quan đi tù, nói những điều
“vô liêm sĩ”. Ít lâu sau Cộng Sản cho về vườn,
châm sóc sân vận động Huế. Gần đây hắn
lại muốn vận động cho con gái hắn đi Mỹ
theo diện vợ chồng, không có kết quả. Nghe đâu
giờ này hắn đă bị tai biến mạch máu năo phải
ngồi xe lăn.
Chúng ḿnh c̣n một Thái quang Chức
em Trưng tướng Thái quang Hoàng cũng c̣n ở lại
bám trụ tại đất cao nguyên. Nguyễn ngọc
Bang, PB, đức phim an phận trên xứ Quăng. Lê văn Tiết,
Bóng bàn; Nguyễn trọng Lân, HQ, chồng trước Thẩm
thúy Hằng, vẫn kinh doanh ở Sàig̣n không mấy tai tiếng
mà c̣n giúp đỡ anh em nữa là đằng khác. Đồng
khóa c̣n lại quốc nội trên dưới chục mống.
Bất cứ ở đâu,
hành vi thế nào, cũng lần lượt về quân khu năm.
C̣n chi
ai khá ai hèn,
C̣n chi
mà nói ai hiền ai ngu.
“Nguyễn Du”
NGHĨA PHU THÊ
Sau 30-4-1975
tuyệt đại đa số vào nhà tù Cọng Sản, xă
hội bên ngoài th́ nào là đánh tư sản mại bản,
đổi tiền, đuổi nhà, kinh tế mới làm cho
có nhà vợ chồng cha con ly tán, tan nát. Anh em khóa 9 cũng không
tránh khỏi thông lệ ấy, qua thời gian cũng gượng
lại được phần nào. Đa phần quư chị
thật là quả cảm, tôi một tù binh đi Bắc, một
thành viên kinh tế mới, từng là phu cao su Lộc ninh, cũng
là môt thời ngồi tủ thuốc lá lề đường
ngă ba Hàng xanh, đạp xe đạp khắp Sàig̣n, tại
nam Cali h́nh như không buổi hội nào vắng mặt. Do đó
làm sao tôi viết lại hết những ǵ tôi thấy, tôi cảm
nhận được đầy đủ của những
tấm ḷng chinh phụ K9. Nhân đọc bài “THĂM TÙ, NUÔI,CON”
của Mary Vơ, phu nhân Thiếu tá HQ Đăng kim Lê, trên nhật
báo Viễn đông (số 1930 ngày 16/7/03) cũng không làm sao cầm được
nước mắt, và đây là một đoạn “ . . .Mịt
mù ,xa thẳm! Kẻ Bắc, người Nam. Lúc c̣n bị giam ở
miền Nam,
tôi vỏn vẹn hai lần đi thăm chồng, giờ đây
chông gai bầy ra trước mắt. Bao nhiêu nan đề
bỗng chốc đổ sụp xuống người tôi, đè nặng lên đôi
vai người vợ thảm hại này. Ḿnh à! Ḿnh bị đày
đọa gian khổ trong lao tù, c̣n bọn vợ các em thao
thức đợi trông đêm ngày dưới mái nhà không nóc.
Biết chia xẻ cùng ai ngọt bùi, đắng cay…cái nhà tù
man rợ kia, sao lại dám phỉng cả loài người
bằng cái tên Cải tạo đầy ấp hận thù,
chứa chan đau khổ, làm tan nát biết bao nhiêu gia đ́nh
. .”
Chị đang khóc cho riêng
chị một ḿnh, lại cám cảnh cho chị em đồng
thuyền. Nhớ đến chồng mà câm tức cho cảnh
đời dối trá của Cộng quân làm tan thương
cho bao gia đ́nh.
Và sau đây mời các bạn
nghe chị Nguyễn Xuân Điền nói “HẠNH PHÚC GIA Đ̀NH” . . . Ngoại trừ
một số các anh chị đă đi ra nước ngoài
trước ngày 30-4-75, số c̣n lại trong chị em khóa 9
chúng ta kẹt lại quê nhà có ai mà không trông thấy những
thảm cảnh ở trại tù cọng sản . . .
“Riêng vợ chồng tôi có lẽ
duyên nợ c̣n dài lê thê cho đến hết kiếp này.
Trong 34 năm “tù chung thân” với nhau th́ phải chịu 20 năm
t́nh lận đận. V́ 8 năm đầu ràng buộc vào
đời sống quân ngũ rày đây mai đó nên chúng tôi
không hưởng được một mùa xuân sum họp nào
cả. Kế đến năm 73 nhà tôi bị VC bắt
trong một cuộc hành quân với Sư Đoàn 21 tại
Chương Thiện khi tàu bị ch́m v́ vướng thủy
lôi của VC. Lúc đó tôi tưởng anh ấy tử nạn,
ở nhà tôi đă lănh tiền tử tuất. Nào ngờ 6 tháng
sau lại ṃ về để cùng tôi tiếp tục cuộc
t́nh lận đận. Kế đến là vụ 30-4-75 lại khăn
gói quả mướp để lao vào gông cùm cộng sản
gần hết 10 cuốn lịch. Rồi sau đó lại vào
ăn cơm tù thêm một năm nữa chỉ v́ một
chuyến vượt biên không thành.
Đấy, cuộc t́nh của
chúng tôi nó lận đận như thế đó, vậy mà
rứt không ra được. Theo tôi nghĩ là duyên nợ
chúng tôi chưa hết và sẽ bền bĩ cho đến
hết chặng đường c̣n lại nơi đất
khách quê người này; v́ ở nơi đây chúng tôi mới
thật sự có được những ngày sum vầy hạnh
phúc. Kết cuộc, “Hạnh phúc nào lại không tả tơi,
không cay đắng”? Phải không các anh chị? West
Covina, Hè 99”.
C̣n biết bao nhiêu gian truân trong âm thầm khóc
hận không nói nên lời. Chúng tôi xin thành kính tri ân. Không những
thế, qua bảng tổng kết chi thu cuả anh Hội
Trưởng Huỳnh văn Nghệ, chúng ta c̣n phát hiện
những tấm ḷng vàng: anh đă vắng bóng, chị vẫn
thay anh, sinh hoạt với hội. Phải chăng để
tưởng nhớ đến anh hay ít ra để cho con cái
có cơ hội hiểu rơ một phần nào ư nghĩa cuộc
đời của ông cha.
“ Nhà cùng mới biết vợ thảo
Nước loạn mới
biết tôi trung”
Nam Cali,ngày 19 tháng 6 năm 2004
Trần Phước Diễn