Đoàn kết

45 năm nh́n lại

        Đến bây giờ dù đă 45 năm trôi qua, mỗi lần nghĩ đến quân trường Thủ Đức ḷng chúng ta vẫn bâng khuâng nhớ đến một thời trai trẻ đầy nhiệt huyết với quê hương đất nước. Với t́nh bạn bốn phương quy tụ về dưới mái trường, biết bao nhiêu vui buồn thao luyện. Kể từ 07-10-1959 thắm thoát trôi qua đă đến ngày măn khóa 28 tháng 11 năm 1960. Chúng ta lại chia tay về phục vụ khắp bốn vùng chiến thuật. Măc dầu hằng năm có họp khóa, nhưng v́ công vụ hoặc việc cá nhân riêng tư nên hiếm gặp nhau trọn vẹn, có bạn suốt 45 năm qua vẫn hiện hữu nhưng không hề biết nhau. Và do đó việc hiểu biết cũng có phần sai khác, từng góc độ.

 

NH̀N LẠI TRƯỜNG KHÓA

             Ngày 5-6-1948 Việt Nam được thừa nhận là một quốc gia độc lập trong khối liên hiệp Pháp. Quốc Trưởng là cựu hoàng Bảo Đại, do hiệp ước vịnh Hạ Long. Ngày 8-3-1949 Việt Nam được xây dựng một quân đội lấy tên là Quân Đội Quốc Gia. Ngày 23-12-1950 Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ kư hiệp định hổ tương pḥng thủ và viện trợ. Cùng ngày nghị định thành lập trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức ở miền NamNam Định ở miền Bắc. Khóa đầu tiên Thủ Đức khai giảng năm 1951. Từ 1951-1954 do Sĩ quan và huấn luyện viên người Pháp điều hành, sang năm 1955 do Sĩ quan và huấn luyện viên người Việt Nam điều khiển cho đến ngày đất nước bị phản bội bỏ rơi vào tay Cộng quân ngày 30-4-1975 với khóa cuối cùng là 3/75.

 Theo đà lớn mạnh của quân đội, năm 1957 quân trường Thủ Đức có nhiệm vụ đào tạo đủ các quân binh chủng: Bộ binh, Thiết giáp, Pháo binh, Công binh, Truyền tin, Quân cụ, Thông vận binh và Quân chính với danh xưng là Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức. Về sau các trường tách riêng và dời đi các địa điểm khác nhau, Thủ Đức chỉ thuần túy đào tạo Sĩ quan Bộ binh.

            Chỉ Huy Trưởng: Sơ khởi thành lập do người Pháp, Thiếu tá Buoillet tại Thủ Đức và Trung tá challondor tại Nam định. Sau chuyển giao cho Việt Nam: 1/Đại tá Phạm văn Cảm 2/Thiếu tướng Lê văn Nghiêm 3/Thiếu tướng Nguyễn văn Chuân 4/Thiếu tướng Hồ văn Tố 5/Đại tá Phan đ́nh Thứ tự Lam Sơn 6/Trung tướng Trần ngọc Tám 7/Thiếu tướng Bùi hữu Nhơn 8/Trung tướng Trần văn Trung 9/Thiếu tướng Lâm quang Thơ 10/Thiếu tướng Phạm quốc Thuần 11/Trung tướng Nguyễn vĩnh Nghi 12/Trung tướng Nguyễn văn Minh, chỉ huy trưởng cuối cùng là Đại tá Trần đức Minh

Sau 25 năm hoạt động, đă đào tạo cho quân đội 55.000 Sĩ quan và chúng ta cũng xin cúi đầu tưởng niệm trên 5.000 Sĩ quan anh dũng hy sinh trên chiến trường khắp bốn vùng chiến thuật.

Theo gịng thời gian và nhu cầu quân sự của đất nước khóa 9 (Đoàn kết) được khai giảng vào ngày 7-10-1959. Lúc bấy giờ Chỉ huy trưởng trường Thiếu tướng Lê văn Nghiêm, Chỉ huy Phó Trung tá Nguyễn đức Thắng,Trưởng khối quân huấn Thiếu tá Vĩnh Biểu.

Cán bộ khóa sinh: TĐT Đại úy Hoàng, ĐĐT Trung úy Kỳ- Trung úy Phục, TrĐT Chuẩn úy Thanh, Tiến, Luy, Lượng, Huệ, Trầm và Trung úy Vàng . . .

Huấn Luyện Viên: Trung úy Tôn Thất Liêu (ban Đại cương), Đại úy Đại (ban Địa h́nh), Trung úy Thức , Thịnh (Chiến thuật) Trung úy Trực (Vũ khí) . . .

Sinh viên sĩ quan: Nhập khóa trên 300, khi ra trường chỉ c̣n 280 tốt nghiệp cấp bậc Chuẩn úy. Thời gian huấn luyện là 24 tuần lễ, chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn I: căn bản tác chiến. Giai đoạn II: phần chuyên môn binh chủng. Khóa IX được phân phối các binh chủng như sau: Bộ binh, Nhảy dù, Thủy quân lục chiến, Biệt động quân, Truyền tin, Thông vận binh, Quân cụ, Pháo binh, Quân nhu; không có Thiết giáp và Công binh. Sau khi măn khóa có nhiều bạn được tuyển qua quân chủng Hải quân và Không quân.

 Có 40 sinh viên Địa Phương Quân theo học khi tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu úy Địa Phương Quân.

Về phần chuyên môn tôi đă đi qua: Trường Pháo binh tọa lạc tại tỉnh Thủ dầu một (B́nh dương).Lúc bấy giờ Chỉ huy trưởng: Thiếu tá Hồ nhựt Quan, Phụ tá quân huấn: Đại úy Chung văn Xom. Cán bộ khóa sinh: Trung úy Xinh, Trung úy Hiếu . . . Huấn luyện viên: Trung úy Tuấn (Địa h́nh), Trung úy Thường, Trung úy Chương . . .(Tác xạ Đại cương), Trung úy Dậu (Quân xa), Trung úy Tân (Chiến cụ đạn dược), Trung úy Phả (Chiến tranh chính trị) . . . Đại úy Khiêm (Chiến thuật).

 Khóa sinh gồm có: 5 Thiếu úy vừa tốt nghiệp trường sĩ quan hiện dịch Đà lạt, một Trung úy sĩ quan chuyển ngành, 40 Chuẩn úy khóa I Đồng đế Nha trang, khoảng 60 SVSQ/K9, 5 SVSQ/K8 cho học lại. Được thành lập 4 trung đội, theo hệ thống tự chỉ huy, chức vụ được tính theo điểm học tập hằng tháng. Liên đội trưởng khóa học đầu tiên SVSQ Lương văn Hoa, tháng kế tiếp SVSQ Trần phước Diễn, tháng cuối cùng SVSQ Nguyễn thành Công.

Thi ra trường Chuẩn úy Lương văn Hoa thủ khoa , ngày măn khóa 28-11-1960, ông Tổng trưởng bộ Quốc pḥng Nguyễn đ́nh Thuần thay mặt Tổng Thống Việt Nam Cọng Ḥa đặt tên cho khóa 9 là khóa “ĐOÀN KẾT”

 

T̀NH THẦY TR̉

            *Buổi học “Lănh đạo chỉ huy”đầu tiên tại Thủ Đức, trên bục giảng Trung úy Liêu. Đúng rồi thầy Tôn thất Liêu trước đây 6 năm là giáo viên lớp nhất trường tiểu học Phú Vang-Huế. Có bàn tay sáu ngón (có ngón cái thừa), tính t́nh hoạt bát, hay kể cho học tṛ nghe những trang anh hùng, yêu nước; Ưa ca những bài ca chiến đấu. Thầy đă từ giă chúng tôi ra đi theo lệnh động viên. Tôi nh́n thầy ḷng xốn xang nhưng sợ vi phạm nội quy không dám chào hỏi. Hôm chuẩn bị đi giai đoạn II, tôi ngang qua khoa Đại cương, đưa tay chào: -Trung úy,tôi đi Pháo binh. –Vâng, chiều đến nhà chơi, khu độc thân, pḥng số . . .Khi đến nhà, Trung úy Liêu: -Cứ tưởng em quên tôi rồi chứ -Đâu có, làm sao quên được, nhận ra Trung úy từ giờ học đầu tiên, nhưng sợ nội quy, bị phạt làm phiền anh, à Trung úy. –Tôi cũng nghĩ thế, bây giờ đi Pháo binh cũng tốt, nhưng coi chừng châm lắm đó. Điểm học của em giai đoạn I yếu lắm, bết nhất là Cơ bản thao diễn…Thời gian trôi qua, năm 1985 gặp lại tại Sài g̣n một Tôn Thất Liêu thân tàng ma dại, thất thiểu trong một ngơ hẽm. Qua câu chuyện được biết: anh đi tù với cấp bậc Trung tá, khi ra về, vượt biên vợ con đi lọt, anh năm lần bảy lượt bị bắt, bây giờ sống vô gia cư với nghề thầy bói bất đăc dĩ. Bất măn từ chối sự giúp đỡ của người thân. Thật oan uổn một kiếp người. Tôi bặt tin anh sau lần gặp gỡ đó.

            *Huấn luyện viên Vũ xuân Trực, môn Địa h́nh và vũ khí, anh em ở nam Cali thường hay lui tới chuyện tṛ. Đặc biêt có mời dư họp khóa  vào các năm 1997và năm 2000 v́ già yếu không đi đươc,thầy đă có thư như sau:

            “Thân gởi anh Hội trưởng khóa 9 và toàn thể anh em. Rất cám ơn anh BẾ, hội trưởng đă đến mời tôi tham dự đại hội khóa 9, nhưng rất tiếc tôi bị mất thính lực cả hai tai nên không thể nói chuyện đàm thoại đối các quư anh chị em được. Cho tôi xin gởi lời xin lỗi và cám ơn toàn thể quư anh chị em có ḷng nhớ đến t́nh cũ nghĩa xưa. Tuy nhiên tôi hứa nếu đến ngày đại hội tôi nghe được trở lại. Tôi sẽ đến tham dự để ôn lại các kỹ niệm cũ tại mái quân trường VKTĐ ngày xưa nhớ tất cả các khuôn mặt thân quen của những ngày xưa thân ái. Có chút quà nhỏ góp thực hiện Đặc San khóa 9. Thầy Vũ Xuân Trực”

            *Và sau đây là ư kiến của một vị thầy cũ: Đại tá Đặng nguyên Phả, khóa 4 VKTĐ

“. . .Tôi đến với buổi hội v́ t́nh chiến hữu, t́nh huynh đệ của những người cùng chung chiến tuyến khi xưa.

            Hồi tưởng lại 40 năm về trước, khi đó tôi đă là Trung úy Huấn luyện viên th́ các chàng trai khóa 9 học ra trường. Tôi dạy về Pháo binh cho khóa sĩ quan Thủ Đức từ khóa 8 đến khóa 11. Cho nên, giờ đây v́ t́nh cũ nghĩa xưa, các anh em Pháo binh khóa 9 Thủ Đức đă mời tôi đến dự buổi họp mặt này.

            Điểm mặt ngày hôm đó, những sĩ quan pháo thủ Khóa 9 đến chung vui gồm có Đinh văn Cương từ vùng Đông Bắc, Lê văn Sanh từ Texas và Trần phước Diễn tại đây. Người nào cũng có “bà xă” đi theo để chia sẻ ngọt bùi.

            Ngày hôm đó, ban tổ chức đă đề cao công lao các chị, chờ chồng nuôi con qua bài hát “Thủy chung, vẫn đợi anh về” thơ Nguyễn Bế do Hoàng quang Huế phổ nhạc và phu nhân anh Cương tŕnh bày, với những câu: “Chồng từ biền biệt phương xa. Như chim găy cánh, hổ sa lưới Mường. Với chồng trăm nhớ ngàn thương, Với con thơ dại, trăm đường âu lo.” . . . . . .

            Tôi viết lá thư này để nói lên những cảm xúc của tôi với những người c̣n nhớ t́nh quê, vẫn nặng t́nh nhà và chưa quên t́nh chiến hữu.

            Để kết luận tôi xin mượn những câu cũng trong bài của Nguyễn Bế: “Ḍng thời gian cuốn trôi vào dĩ văng biết bao kỷ niệm dạt dào của một thời đáng yêu và đáng sống mà giờ đây c̣n lại chỉ có nhớ và thương! Trong cái không gian mới và thời gian mới, giờ đây, với quăng đời c̣n lại hăy mạnh dạn vui sống, sống cho con cháu chúng ta để mai này có một Việt Nam rạng rỡ với nhiều nhân tài xuất chúng, xây đấp nền Dân Chủ Tự Do mà cha ông chưa tṛn trọng trách.”

            Vâng , tôi với các anh tuy chưa làm tṛn chí trai thế hệ! Nhưng tôi có cùng tâm sự như anh, hy vọng ở con em chúng ta sau này nên tôi đă viết:

Nh́n tương lai ḷng đầy tin tưởng

Con em về dựng lại quê hương

Cali ngày 27-12-99

 

NH̀N LẠI BNG HU

            *Nhớ lại: Tôi bước từ chuyến xe đ̣ xuống cổng trường “Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức” một ḿnh, v́ đi trễ với tâm trạng sợ lính. Trung sĩ Lư Bâu đón vào, hướng dẫn cách sinh hoạt: Đầu tiên là xuống tóc, vẫn c̣n mặc thường phục, trông vẽ mặt ngây ngô, lănh quân trang vũ khí, về pḥng xếp đồ. Khoảng 10 hay 11giờ ǵ đó tŕnh diện Chuẩn úy Hồ Tấn Luy. Bận bộ đồ lính tây thụng thịnh đứng đằng sau. Khi tan hàng, mấy đứa bạn vào trước được dịp hù dọa. Gặp cái pḥng 1, trung đội 3, một tổ quỷ nào là Tôn thất Hiếu, Vũ quư Đản, Lê văn Bằng “ĐM”, Đinh văn Cương, Liêm đen, Châu nhốp, Châu đía . . .Xếp hàng đi ăn cơm, gặp một cậu vạm vở, mắt lờ đờ, hất hàm hỏi: -Mày đâu đến. -Tôi ở Nha trang. –Sao nói tiếng Huế. –Vâng, tôi gốc Huế. –Mày theo tao, đừng nghe mấy thằng đó, bọn thấy mày mới vào, chúng nó hù mày đó. Trông anh này tướng đi giống anh chàng bán hàng rong khi đội chiếc nón rộng vành. Nên lũ quỷ cho cái tên cúng cơm “Tuấn phở”. Thế là tôi theo Tuấn, bên cạnh lại có một anh bạn to con hơn lúc nào cũng chậm răi, đắng đo, lũ quỷ cũng phán cho danh hiệu “Duyên thợ mộc”. Ăn cơm xong, về pḥng là lũ quỷ huyên thuyên không lúc nào vắng tiếng nói đùa. Bọn xách tôi ra: Thằng mới vào trông tướng lù khù giống thầy bói, thế là cả pḥng minh danh “Diễn thầy bói”. Dạo đó đứa nào rồi cũng có một biệt danh cả. Gọi nhau như vậy dễ nhận diện xem như b́nh thường, vui vẽ. Ba đứa chúng tôi thường ăn cơm chung bàn, thực tập cùng toán, chia sẻ cùng nhau. Ngày gắn Alfa được đi phép, chúng tôi lại đi chơi chung. Thỉnh thoảng cả ba đứa lại say sưa cùng pḥng. Về cùng binh chủng Pháo binh. Ra trường ít có nhịp găp nhau, thỉnh thoảng gặp nhau tại Ság̣n vài lần. Có lần tôi và Tuấn về Mỹ Tho thăm Duyên năm 1966, khi trở lại bị bắn sẽ chạy trối chết. Cuộc chiến tàn nghe đâu Tuấn đă từ giả cơi đời sau 1975. Hằng năm tôi ở Garden Grove c̣n có cái may mắn gặp lại Duyên ở San Diego trong ngày họp khóa.

            *Gặp lại Lê văn Sanh, một thời cùng nhau nghịch ngợm trên ghế nhà trương trung học Huế, trong giờ học sử địa của thầy Cao hữu Triêm hay giờ vạn vật của thầy Tùng “điên”. Ra trường, ḿnh về đơn vị hành quân, bạn về tham mưu Pháo binh Quân đoàn I. Đến ngày đức phim, bạn vẫn được sự thương yêu kính nễ của anh em trên dưới. Cám ơn bạn, bất cứ lúc nào có cơ hội, bạn vẫn thăm hỏi ḿnh, với lối đùa nghịch như hồi trên ghế nhà trường. Cho đến bây giờ, năm nào bạn cũng gọi điện thoại đôi ba lần, không gặp mặt th́ để lời nhắn, bạn không quên nhắc đến cái tên móc nôi của tôi, làm cháu ngoại nhà tôi cứ đi theo ông xin quẻ. Hoạn nạn nhất là bạn Nguyễn văn Phán và ư trung nhân cứ tưởng như thật, cứ theo hỏi hoài, ḿnh từ chối cứ tưởng thầy làm eo đ̣i “tiền quẻ”.

Nhắc đến Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán, Tôi liên tưởng đến: “Huế, Mậu Thân và tôi

 “. . . . . .hơn 40 ngày, từ Vùng IV về giải tỏa Sàig̣n rồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà thật đàn bà, chỉ thấy toàn máu, nước mắt và mồ hôi.

Tôi ra lệnh:

"Lộc và Sự mỗi ông cho một toán 10 người băng thật nhanh đến áp sát mặt Thành xong ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán nầy, đôn lên mặt Thành. Khi bám được mặt Thành th́ tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vũng vị trí trên mặt Thành để làm đầu cầu".

Con cái tôi hành động c̣n đẹp hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên Thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mănh liệt trên nóc Thành, phải khóa lại. Một chặn đường xương máu đă vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hănh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Đài Huế. Đây là nơi tượng trưng cho Hồn Thiêng Dân Tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 anh em tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mă Khện đánh chiếm Kỳ Đài. Địch bắn trả rất rát. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Đài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, năm giờ mười phút chiều, màu áo rằn ri TQLC đă làm chủ Kỳ Đài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù c̣n trên không. Một anh em Lính rút đâu trong người ra lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu Đoàn:

"Tất cả đă sạch sẽ, xin Thiếu tá cho tôi treo cờ lên".

Tôi nhớ rơ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:

"Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất c̣n sống sót cũng phải dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Phú Vân Lâu".

Trong niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh hét lớn: Thủy Quân Lục Chiến! Xong lấy hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến Thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào ḿnh, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười nói:

"Em không sao Đại úy".

Phán nghĩ thằng em nầy tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.

Tiểu Đoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau nầy tôi được nghe: "khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự thượng kỳ cho Sư Đoàn 1. Sáng hôm sau ngày 24 tháng 2 Phạm Văn Định dẫn một đơn vị của Sư Đoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.

Nh́n lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hănh diện thật sự v́ thằng con của Huế đă góp phần dựng lại ngọn Cờ nầy. Trung úy Sự tŕnh tôi:

"Thằng Hạnh chết, ḿnh c̣n 67 anh em".

Đại đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có ba mục tiêu: Con đường, cửa Sập và Kỳ Đài mà bây giờ chỉ c̣n 67 người.

Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Đông Ba, nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngă tư Anh Danh. BCH của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm nầy có Tôn và Lưu cùng học một lớp hồi c̣n nhỏ. Trong nhà không c̣n ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. T́nh h́nh chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẫn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lục soát tàn quân địch. Lính canh gát bắt về một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.

"Lệnh giới nghiêm, đă mười một giờ đêm sao ông này c̣n lang thang trên hè phố, em nghi quá", người lính nói.

Tôi sững sờ nh́n người đàn ông.

"Thầy Cao Hữu Triêm! Trời ơi Thầy!"

Tôi gọi mấy tiếng lớn mà Thầy vẫn không nghe, Thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời Thầy ngồi:

"Con là học tṛ cũ của Thầy đây".

Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:

"Ờ, ờ sao con khoẻ không. Thầy mấy ngày nay chưa ăn chi cả".

Lính tôi kiếm cơm trắng và đĩa gà luộc về mời Thầy xơi. Tụi nó c̣n kiếm được một b́nh trà nóng mời Thầy. Sau một hồi Thầy tỉnh táo, và cho biết: Cô và sắp nhỏ vào Đà Nẵng, thằng con lớn chết rồi, Thầy không muốn về nhà nữa. Rồi Thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.

"Thôi Thầy ở đây với con cho yên", tôi nói.

Lính của tôi thay nhau hầu hạ Thầy ân cần, đến ngày thứ tư Thầy đ̣i đi, tôi thu xếp để Thầy vô Đà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của Thầy. Cầu mong Thầy được b́nh an.

Được sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đă tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả bọn giặc thù cộng sản để dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên Kỳ Đài tượng trưng cho dân tộc Việt. Hai mươi ba năm sau, hồi tưởng lại,máu và xương kia đă theo gịng sông Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ. Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Đô đó, cũng Kỳ Đài đó, cho tôi được góp một phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu nghĩa nặng, nơi tôi đă sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người trong ḷng Dân Tộc Việt Nam.”

            *Tiếc thay Phán thanh toán chiến trường, kẻ được cái vinh dự treo ngọn cờ vàng trên Kỳ đài Phu Văn Lâu lại là Phạm văn Đính, Hắc Báo, một thời oanh liệt của SĐIBB.  Sau hành quân Hạ Lào “Lam Sơn 719”, Đính được bổ nhiệm Trung Đoàn Trưởng TrĐ56/BB. Đóng tại căn cứ Caroll(Cam lộ, Quảng trị) t́nh h́nh quẩn bách, hắn đă đầu hàng địch quân, trên đất Bắc hắn đă tuyên bố lếu láo. Sau 1975, Cộng quân lại đưa hắn vào trại lên lớp cho các sĩ quan đi tù, nói những điều “vô liêm sĩ”. Ít lâu sau Cộng Sản cho về vườn, châm sóc sân vận động Huế. Gần đây hắn lại muốn vận động cho con gái hắn đi Mỹ theo diện vợ chồng, không có kết quả. Nghe đâu giờ này hắn đă bị tai biến mạch máu năo phải ngồi xe lăn.

            Chúng ḿnh c̣n một Thái quang Chức em Trưng tướng Thái quang Hoàng cũng c̣n ở lại bám trụ tại đất cao nguyên. Nguyễn ngọc Bang, PB, đức phim an phận trên xứ Quăng. Lê văn Tiết, Bóng bàn; Nguyễn trọng Lân, HQ, chồng trước Thẩm thúy Hằng, vẫn kinh doanh ở Sàig̣n không mấy tai tiếng mà c̣n giúp đỡ anh em nữa là đằng khác. Đồng khóa c̣n lại quốc nội trên dưới chục mống.

            Bất cứ ở đâu, hành vi thế nào, cũng lần lượt về quân khu năm.

C̣n chi ai khá ai hèn,

C̣n chi mà nói ai hiền ai ngu.

“Nguyễn Du”

 

NGHĨA PHU THÊ

            Sau 30-4-1975 tuyệt đại đa số vào nhà tù Cọng Sản, xă hội bên ngoài th́ nào là đánh tư sản mại bản, đổi tiền, đuổi nhà, kinh tế mới làm cho có nhà vợ chồng cha con ly tán, tan nát. Anh em khóa 9 cũng không tránh khỏi thông lệ ấy, qua thời gian cũng gượng lại được phần nào. Đa phần quư chị thật là quả cảm, tôi một tù binh đi Bắc, một thành viên kinh tế mới, từng là phu cao su Lộc ninh, cũng là môt thời ngồi tủ thuốc lá lề đường ngă ba Hàng xanh, đạp xe đạp khắp Sàig̣n, tại nam Cali h́nh như không buổi hội nào vắng mặt. Do đó làm sao tôi viết lại hết những ǵ tôi thấy, tôi cảm nhận được đầy đủ của những tấm ḷng chinh phụ K9. Nhân đọc bài “THĂM TÙ, NUÔI,CON” của Mary Vơ, phu nhân Thiếu tá HQ Đăng kim Lê, trên nhật báo Viễn đông (số 1930 ngày 16/7/03) cũng không làm sao cầm được nước mắt, và đây là một đoạn “ . . .Mịt mù ,xa thẳm! Kẻ Bắc, người Nam. Lúc c̣n bị giam ở miền Nam, tôi vỏn vẹn hai lần đi thăm chồng, giờ đây chông gai bầy ra trước mắt. Bao nhiêu nan đề bỗng chốc đổ sụp xuống  người tôi, đè nặng lên đôi vai người vợ thảm hại này. Ḿnh à! Ḿnh bị đày đọa gian khổ trong lao tù, c̣n bọn vợ các em thao thức đợi trông đêm ngày dưới mái nhà không nóc. Biết chia xẻ cùng ai ngọt bùi, đắng cay…cái nhà tù man rợ kia, sao lại dám phỉng cả loài người bằng cái tên Cải tạo đầy ấp hận thù, chứa chan đau khổ, làm tan nát biết bao nhiêu gia đ́nh . .”

            Chị đang khóc cho riêng chị một ḿnh, lại cám cảnh cho chị em đồng thuyền. Nhớ đến chồng mà câm tức cho cảnh đời dối trá của Cộng quân làm tan thương cho bao gia đ́nh.

            Và sau đây mời các bạn nghe chị Nguyễn Xuân Điền nói “HẠNH PHÚC GIA Đ̀NH” . . . Ngoại trừ một số các anh chị đă đi ra nước ngoài trước ngày 30-4-75, số c̣n lại trong chị em khóa 9 chúng ta kẹt lại quê nhà có ai mà không trông thấy những thảm cảnh ở trại tù cọng sản . . .

            “Riêng vợ chồng tôi có lẽ duyên nợ c̣n dài lê thê cho đến hết kiếp này. Trong 34 năm “tù chung thân” với nhau th́ phải chịu 20 năm t́nh lận đận. V́ 8 năm đầu ràng buộc vào đời sống quân ngũ rày đây mai đó nên chúng tôi không hưởng được một mùa xuân sum họp nào cả. Kế đến năm 73 nhà tôi bị VC bắt trong một cuộc hành quân với Sư Đoàn 21 tại Chương Thiện khi tàu bị ch́m v́ vướng thủy lôi của VC. Lúc đó tôi tưởng anh ấy tử nạn, ở nhà tôi đă lănh tiền tử tuất. Nào ngờ 6 tháng sau lại ṃ về để cùng tôi tiếp tục cuộc t́nh lận đận. Kế đến là vụ 30-4-75 lại khăn gói quả mướp để lao vào gông cùm cộng sản gần hết 10 cuốn lịch. Rồi sau đó lại vào ăn cơm tù thêm một năm nữa chỉ v́ một chuyến vượt biên không thành.

            Đấy, cuộc t́nh của chúng tôi nó lận đận như thế đó, vậy mà rứt không ra được. Theo tôi nghĩ là duyên nợ chúng tôi chưa hết và sẽ bền bĩ cho đến hết chặng đường c̣n lại nơi đất khách quê người này; v́ ở nơi đây chúng tôi mới thật sự có được những ngày sum vầy hạnh phúc. Kết cuộc, “Hạnh phúc nào lại không tả tơi, không cay đắng”? Phải không các anh chị?  West Covina, Hè 99”.

C̣n biết bao nhiêu gian truân trong âm thầm khóc hận không nói nên lời. Chúng          tôi xin thành kính tri ân. Không những thế, qua bảng tổng kết chi thu cuả anh Hội Trưởng Huỳnh văn Nghệ, chúng ta c̣n phát hiện những tấm ḷng vàng: anh đă vắng bóng, chị vẫn thay anh, sinh hoạt với hội. Phải chăng để tưởng nhớ đến anh hay ít ra để cho con cái có cơ hội hiểu rơ một phần nào ư nghĩa cuộc đời của ông cha.

 
     
Nhà cùng mới biết vợ thảo

      Nước loạn mới biết tôi trung”

                                                                             

                                                                               Nam Cali,ngày 19 tháng 6 năm 2004

Trần Phước Diễn