Đoàn kết
Sau 30 năm buông súng.
30-4-1975, lệnh buông súng, một
niềm đau của đất nước bị phản
bội bởi đồng minh, một cái chết tức tưởi
của một quân đội có sức mạnh nhất nh́ Đông
Nam Á. Đoàn kết đa số là đơn vị trưởng
chiến đấu hay pḥng sở, nên khi trở về với
vợ con thông thường là c̣n chiếc quần “xà-lỏn”.
Ngày đầu tiên là tŕnh diện Ủy
ban quân quản, một tháng sau lệnh đi tập trung cải tạo,
tùy theo địa phương chúng đưa vào trại bằng
cách cho gọi chuẩn bị đầy đủ học
tập cải tạo một tháng cho cấp Tá, và 10 ngày cho
cấp úy. Năm tháng kế tiếp là tù cải tạo, Quản
chế , kinh tế mới, Sống lang
thang, vượt biên,cảnh đời lưu vong .
“ Tôi, nguyên tiểu đoàn đóng tại Ḥa Cầm
(Phước Tường, Đà Nẵng) yểm trợ hỏa
lực cho SD/Dù và SD/TQLC tại măt trận Thường đức.
Chiều 28-3-75
một cuộc họp khẩn cấp tại bộ Tư
Lệnh QDI “Đà nẳng tử thủ”. Vào lúc 20 giờ
đơn vị bị pháo nặng, tôi phải đổi
vị trí, di chuyển qua cầu “De Lattre” trong đêm đoàn
xe vừa qua khỏi cầu, vào vị trí
xong. Toán thám sát báo cho biết có một đoàn xe 28 chiếc
xe jeep qua cầu trực chỉ Tiên sa, trong đó có Trung tướng
Ngô Quang Trưởng. Hệ thống liên lạc với Quân
đoàn không c̣n liên lạc được nữa, với hậu
cứ cách nhau khoảng 500 thước cũng không có tiếng
động tịnh. Sáng 29 tháng 3, trên đường
đoàn người chạy loạn lên xuống tất bật
xen lẫn với kẻ hôi của. Băi Tiên Sa ngỗn ngang đồ đạc, người
không lên được tàu thất vọng thảm thương.
Tôi tập họp quân sĩ tiểu đoàn 105
pháo binh cơ động (175ly) đóng bên cạnh đường
dưới chân núi Non Nước tảng hàng, tùy tiện. Một ḿnh trở về cầu “De
Lattre”, thành phố đóng cửa, ṭa thị chính treo cờ
mặt trận giải phóng (xanh đỏ sao vàng), chạy
thẳng về bờ biển Thăng B́nh, người ngơ
ngác lên xuống tấp nập, t́m gặp người hỏi
cách ra tàu Mỹ. Người này chỉ: ghe đậu cách bờ
200m, phải lội bộ ra đó, trao 30.000 đồng /người,
phải đủ bốn người ghe mới chạy. Bằng
cách đó gặp một “xà lan” kéo về Cam
ranh, cập bến
t́m vợ con thất lạc. V́ tôi đă đưa
vợ con xuống tàu xuôi Nam trước
2 hôm, ở lại chiến đấu theo lệnh quân đoàn I. Gặp vợ con tại
Nha Trang, nghỉ lại một đêm sáng hôm sau lại cũng
chạy loạn như Đà Nẵng, chạy về đến
Cam Ranh th́ bị chận lại, ở lại Nha Trang 13 hôm,
lại xuống ghe xin Quân quản trở về Quảng ngải,
ghe ra khơi chúng tôi quay đầu cập bến Vũng tàu,
t́m cách vào Sàig̣n, nơi đây quan dân không tin sẽ bị bức
tử. .
Biến động sôi sục, 30-4-75 lệnh buông
súng.
“. . .Khoảng 8 giờ sáng, hai loạt
đại bác 152 ly bắn thẳng vào trường Trung
Học Gia Long làm thiệt mạng chừng 12 người,
trong đó có một sư tăng Chùa Xá Lợi gần bên.
Hồi 9 giờ sáng, tướng Minh, Phó Tổng Thống
Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn
Mẫu hiện diện tại Dinh Độc Lập
vẫn không được tin tức ǵ về phái đoàn
được cử đi gặp các sĩ quan chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời trong "trại Davis". Ông Minh yêu
cầu hai vị phụ tá thảo một bản tuyên ngôn
ngưng chiến đơn phương để lát
nữa ông sẽ đọc trên đài phát thanh.
Trước Dinh, không c̣n vệ binh
canh gác. Ai cũng có thể vào được.
Một người lùn lùn nhưng thân to,
bụng phệ, môi dày, vượt hàng rào sắt, băng qua
công viên không bị ai chặn lại. Ông
lên cầu thang chính của Dinh. Đó là tướng
Vannuxem, một trong những "thống chế"
của tướng De Lattre, cầm quân ở ngoài Bắc
trước đây, nay làm nghề kư giả. Tướng
Minh ngày xưa ở dưới quyền tướng
Vannuxem, thân t́nh đón tiếp ông, rồi đưa ông ra
một chỗ riêng, nói với ông, giọng cảm
động:
- Thưa ông, tôi c̣n làm ǵ đტợc nữạ. Để tránh cảnh nồi da xáo thịt, tôi
sắp ngỏ lời đầu hàng cộng sản. Ông là một cựu quân nhân. Chúng ta đă mang
cùng một binh phục quân ngũ. Xin Ông
nhận chuyển hộ sang Pháp bức điện tín sau
cùng này, được không?
Tướng Vannuxem nghe ông Minh vừa đọc vừa ghi
lại mấy hàng như sau:
"Chúng tôi xin Pháp quốc đón nhận và bảo vệ
những người Việt Nam có tâm hồn Pháp, tinh
thần Pháp, đă được Pháp quốc đào
tạo, và luôn luôn ôm ấp lư tưởng Pháp quốc."
Tướng Minh lên chiếc xe Mercedes dành cho Tổng Thống, ra đài
phát thanh.
Hồi
10 giờ 15, tướng Minh cho phát thanh thông cáo:
"Yêu cầu quân sĩ b́nh tĩnh chấm
dứt giao tranh và ở nguyên tại chỗ".
Khi tướng Minh trở về Dinh, ba thiết
xa M.48 của quân đội VNCH đă đậu sẵn
dưới lùm cây công viên. Hai sĩ quan trẻ tuổi chạy ra gặp
tướng Minh. Họ la vào mặt ông:
- Không
thể đầu hàng. Chúng tôi sẽ chiến đấu và
chết tại nơi này ...
Ông
Minh nắm vai họ, nói với họ bằng một
giọng cương quyết:
- Quá
muộn rồi bạn ơi ! Nếu ta
chống cự, họ sẽ bắn pháo đạn vào tan
tành Thủ Đô này ...
Sau vài phút lời qua tiếng lại, hai sĩ quan trở ra
thiết xa, rồi ba chiến xa rời khỏi Dinh
Độc Lập. Tại Dinh c̣n chừng 30 binh sĩ có
nhiệm vụ "cận vệ" ông tướng
Tổng Thống.
Hồi 11 giờ 30, giữa trung tâm thành phố, một
Đại tá quân cảnh cao niên, vận binh phục bộ
lễ, khoan thai tiến ra Đài Chiến Sĩ Trận Vong
miền Nam, đối diện với Quốc Hộị
chĩa súng vào đầu ḿnh bắn một phát đạn.
Viên đại tá ngă ngửa ra, nằm dài xuống,
thẳng người trong thế nghiêm lần chót giữa một
vũng máu chan ḥa ... (Trung tá
Long, Cảnh Sát Quốc Gia)
Trời đổ
mưa xuống Sàig̣n.
Trong pḥng tiếp tân Dinh Độc Lập,
tướng Minh cùng với các nhân viên Chính Phủ đang
chờ cộng sản đến. Ông đă giữ đúng hai điều
kiện "phe Cách Mạng" đ̣i hỏi: trục
xuất người Mỹ và giải tán quân đội cùng
cảnh sát Sàig̣n. Và rồi người Pháp sẽ có thể
làm được phép la.. Cho
đến phút chót, Minh Cồ vẫn c̣n bám chặt vào
lời đại sứ Merillon bảo đảm với
ông. Mấy phút trước đây, ông vẫn c̣n
mở miệng nói với phóng viên A.F.P. câu sau chót này:
"Xin nói với đại sứ Pháp rằng anh đă
gặp tôi tại Ding Độc Lập ...".
Mấy tiếng chung cuộc thật ư nghĩa, thảm
thương và than ôi, nực cười !
Bỗng nhiên, tướng Minh
giật nẩy người . Ông nghe có
tiếng rầm rầm đâu đây chen
lẫn tiếng xích xe kêu lẻng kẻng. Ông
nh́n đồng hồ, 12 giờ 4 phút. Mấy phút trôi qua . Tiếng rầm rầm nghe
to hơn. Đúng 12 giờ 10 phút trưa, 3 xe thiết
giáp T.54 loang loáng nước mưa, đè bẹp rào gỗ
đỏ, trắng dựng chung quanh Dinh Độc
Lập. Thiết xa khổng lồ bắn một tràng dài
chỉ thiên, rồi thật là ư nghĩa, lật đổ
nhào chấn song cổng chính, đè méo xẹp xuống,
phăng phăng đâm thẳng về phía trước, chạy
nát cả vườn cỏ công viên. Có hai xe Jeep và một
"cam nhông" đi theo . Xe trương cờ chính phủ Cách Mạng Lâm
Thời nửa xanh nửa đỏ có sao vàng. Dẫn
đầu là một sĩ quan, theo sau có chừng 15 bộ
đội Việt Cộng mặc áo màu xanh lá cây,
đội nón cối, cầm súng ngang hông.
Một vài phút trôi qua
. Trên nóc sân thượng Dinh Độc Lập,
xuất hiện những chú lính bé tí teo áo xanh. Họ hạ cờ vàng ba sọc đỏ
của VNCH xuống, kéo cờ Cách Mạng lên. Trong
thời gian đó, viên sĩ quan có bốn năm bộ
đội súng ống đầy ḿnh tháp tùng, đă vào pḥng
tiếp tân, nơi tướng Minh và các cộng sự viên
thân cận nhất của ông đang chờ đợi. Tướng
Minh cất lời:
-
Thưa ông Sáu, tôi đợi ngài từ sáng nay để trao
quyền hành ...
Sĩ
quan nọ cục cằn đáp lại:
- Anh dám nói là trao quyền hành! Anh
chỉ là một tên tiếm quyền, một tên bù nh́n.
Anh không phải trao quyền hành cho chúng tôi .
Chúng tôi cầm súng trong tay để
lấy quyền hành. Tôi nói cho anh rơ tôi không phải là
một ông Sáu, nhưng là một Trung Tá Chính Ủy
. Từ giờ phút này, cấm chỉ anh không
được ngồi !
Tướng Minh nhăn mặt lại .. Mặc dù thiết giáp mang phù
hiệu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,
nhưng kẻ vừa chiếm đoạt Dinh Độc
Lập là bộ đội Việt Cộng của miền
Bắc. Trước mặt tướng Minh, toàn là xe
tăng, sĩ quan, binh lính Bắc Việt thuộc lữ
đoàn M.26.
Tướng Minh gắng giữ b́nh tĩnh,
và lại lên tiếng ra vẻ thân mật ...
- Chúng tôi đă sắp sẵn một bữa
tiệc thiết đăi Trung Tá. Có yến sào,
có súp măng cua biển.
Trung Tá người Bắc liền khua tay
nghiêm nghị, nói cắt ngang:
- Anh và các
"anh khác" đang bị quản thúc. Lo mà giữ
lấy lối ăn tư bản. Chúng
tôi sẽ cho bọn anh một bữa
ăn trận mạc: một bát cơm với một
hộp thịt lợn muối .
Sau khi bị khám xét rất kỹ, mọi bộ
trưởng hiện diện bị giam vào một căn
pḥng. Lúc này tại Dinh Độc Lập, nhan nhản kư
giả ngoại quốc đang xốn xang chạy theo xe thiết giáp.
Tướng Minh bị lính cộng sản và sĩ quan
chỉ huy bao vây chung quanh. Lính chĩa súng
trận vào ông trong khi sĩ quan giơ cao khẩu súng
lục cỡ lớn. Nhiếp ảnh viên báo
chí bấm đèn chụp lia lịa. Tướng Minh
bị đẩy lên xe díp. Xe vội vàng
nổ máy . Cộng quân
đưa ông tới đài phát thanh. Ông sẽ phải
đọc một lời hiệu triệu cuối cùng kêu
gọi binh sĩ miền Nam buông súng. Lúc đó
vẫn c̣n tiếp tục giao tranh khắp nơi, Hồi 1
giờ trưa, tướng Minh bị giải về Dinh
Độc Lập và bị giam trong một bàn giấy dưới
tầng hầm. Ông đă đóng xong vai tṛ.
Một vai tṛ ngắn ngủi khác
thường. Không đầy 48 tiếng đồng
hồ từ lúc cầm quyền tới khi bị băi
chức, bị bắt giam ...”
Tù cải tạo, thoát hiểm
và lưu vong
Tôi đến
tŕnh diện quân quản tại phường Tự Đức,
Quận nhất, nằm lại nhà người
quen, không về quê, tŕnh diện cải tạo tại trường
Marie Curise. Xe chở đến thành “Ông Năm” Hóc Môn, ở
đó một năm, chuyển về Long giao sau một tháng
lại chuyển đi Bắc: từ Tân cảng đến
Bến Thủy bằng tàu thủy Sông Hương, từ Bến
Thủy đến Sông Hồng bằng tàu hỏa, từ sông
Hồng đến Sơn La bằng xe bít bùng. Sau mấy tháng v́ t́nh h́nh biên giới Trung Quốc,
chúng tôi được di chuyển đường bộ về
Yên Bái. Sau ba năm có lệnh chuyển về
miền xuôi, đa số cứ tưởng được
tha về. Toán chúng tôi được đưa vào trại
III Nghĩa Dũng -Nghệ Tĩnh, do công an
coi tù thay v́ bộ đội như 3 năm trước kia.
Tù cải tạo th́ ai cũng đă rỏ, mục
đích là hành hạ cho trở nên một phế nhân, không c̣n
cách kháng cự. Có nhiều bạn không chịu nổi
đă phải bỏ ḿnh trong tù …Bạn Lê xuân Đèo tại
trại Khe Thắm,chết v́ đói, v́ hận thù, v́ đọa
đầy, v́ tủi nhục, phút chót chỉ thèm một “cục
đường” không đạt được trước
khi tắt thở. Bạn Lương văn
Hoa bị cây đè chết trong tù. Bạn Nguyễn Đại,
Lê văn Mạnh chết tức tưởi tại trại
Hoàng Liên Sơn . . .
Năm 1983 tôi đươc
thả ra khỏi trại. Bị quản
chế một năm, đi kinh tế mới Lộc Ninh năm
1984 làm phu cao su. Năm 1985 tôi bị sốt rét không chịu
nổi về nằm viện tại Sàig̣n và ở liều
tại đó, không hộ khẩu, buôn bán lề đường
cho đến ngày đi HO18 năm 1994. Đi
theo đầy đủ vợ con, đến nơi
các con đă cố gắng làm ăn, bây giờ chúng đă có
gia thất cả rồi. Thỉnh thoảng chúng về thăm,
nhắc lại “hồi mới đến Mỹ, chú ǵ bạn
cùng khóa với ba đến thăm đem cho hai cái nệm
cũ, phát cho mỗi đứa 20 dollars, ḿnh mới đến
thấy quư chi lạ”. Đó là lần gặp bạn Trần
Tốn đầu tiên trên đất Mỹ. Và cũng tại
Nam Cali này tôi được bà giáo dạy lái xe và hướng
dẫn đi lấy bằng lái là chị Vũ minh Diệu;
những ơn nghĩa đồng khóa như vậy không thể
nào phai mờ trong tâm trí chúng tôi. Hiện giờ
suốt ngày giúp việc nhà chùa chút đỉnh, nghỉ ngơi,
cá nhân cảm thấy rất thỏa măn. Đêm nằm
trăn trở cho phận làm trai chưa
tṛn với đất nước, buồn cho cảnh đời
lưu vong.
Cùng K3 Nghĩa
Dũng, có Phạm ngọc Diệm toán thợ cày. Mỗi sáng
thứ tự xuất trại: Đội nhà bếp ở
ngay trước cổng, rồi đến toán thợ cày, đến
thứ tự các đội. Sáng nay được
thông báo trước trại Đội nhà bếp trong quư vừa
qua đă làm lợi cho trại cả mấy tấn luơng
thực. Toán thợ cày vừa ngang qua nhà bếp, anh Diệm
dừng lại nghiêm chỉnh lạy hai lạy và nói câu đại
ư chúng tôi c̣n đói lắm, anh trưởng bếp Tánh đừng
bóp họng chúng tôi để làm lợi cho trại. Giờ
này được biết anh cũng an
trú tại Sacramento, CA.
Trong tù cải tạo, tôi ở cùng đội, có lúc
nằm cạnh nhau với anh Vũ văn Phan suốt bao
nhiêu năm, không biết cùng khóa. Ngày về
gặp nhau tại Sàig̣n mới hay. Chúng ta hăy nghe anh Vũ
văn Phan tâm sự;”Gia đ́nh chúng tôi gồm 8 người:
2 vợ chồng và 6 con, sang định cư ở đây
gần 8 năm. Thoạt đầu, chắc cũng như
các anh chị, thật khó khăn, nhưng sau môt thời gin
ngắn mấy cháu lớn đă t́m được việc
làm, chỉ c̣n một cháu út đi học, hiện giờ cháu
đang học Đại học. C̣n tôi và nhà
tôi th́ bệnh tật nhiều, chẳng làm được
ǵ. Cuối năm 94 tôi suưt bị vong mạng
v́ heart attack. Tôi phải nằm nhà thương mất
10 ngày để thông mạch máu trong tim. Khi khỏi rồi bác sĩ phụ trách cho biết
là mạch máu bị nghẽn 93% nếu không vào nhà thương
kịp thời th́ không cứu được. Năm 1999 và năm 2000 hai cháu gái đă lập gia đ́nh;
đứa em sinh được một cháu gái và đứa
chị sinh được hai cháu trai. Như
thế là chúng tôi có được ba cháu ngoại. Job của vợ chồng chúng tôi bây giờ là giữ
trẻ, trông cháu, một công việc thật là bất đắc
dĩ. Có lẽ cả tiểu bang Louisiana chỉ có ḿnh
tôi là khóa 9 VKTD, c̣n toàn là những khóa khác, những quân binh chủng
khác nên tôi cảm thấy rất là cô đơn, lẻ loi.”
Phạm Duy th́ chịu tù như phần đông anh
em chúng ta. Ngay khi thả về đă vượt biên bằng
đường bộ đi từ Sàig̣n đến Châu Đốc
vượt qua biên giới, trải qua ba tháng trên đất
Campuchia, vượt qua từng chặng đường, từng
khu vực của bọn Khờ Me Đỏ, bọn
Hunsein, bao nhiêu lần thoát chết mới đến được
Thái Lan vào năm 1982 và năm 1983 th́ được định
cư tại Mỹ. Có thể nói Trung tá Phạm Duy, không quân
nhà ta, con đường vượt biên gian nguy chẳng khác
chi cuộc vượt biên bằng đường bộ của
Lư Tống. Đến Mỹ chẳng bao lâu bạn Duy đă
tạo dựng cho ḿnh một cơ sở làm ăn khá vững
chắc ở Galveston, Texas: một Liquor và một building
chung cư .“Nguyễn Bế kể lại”.
Có bạn khi
ra khỏi tù, tứ cố vô thân, vợ con đă bỏ đi,
nhà cửa đă sang chủ mới, ngủ nhờ mái hiên, sống
lề đường. Không có tiền để
làm hồ sơ ra đi, phải đi HO gần chót.
Trên đất Mỹ lại tiếp tục cuộc sống
cô đơn. Tuổi già, trạng thái tinh thần uất ức,
hoàn cảnh xă hội sai khác, đôi khi chúng ta không nhận
diện ra được chính ta là ai trong cái hoàn cảnh phù
phiếm này, hận đời, hận người.
. . Nhưng dù sao đi nữa, cuộc sống
vật chất cũng khá hơn những anh em c̣n bị kẹt
lại. Không tính kẻ phản bội theo
địch quân.
Tù cải tạo
đa số anh em đều biết, đứa nào phúc duyên
c̣n ra khỏi trại, tiếp tục
những bước
gian nan cuộc sống bất an, t́m lối thoát. Và đây
chúng ta nghe bạn Phan công Tôn kể chuyện vựợt biên:
“Khi ra tù mạnh ai nấy
“binh” đường vượt biên: Khánh đă bị bầm
dập nhiều chuyến vượt biển không thành, tôi
cũng đă từng “bỏ của chạy lấy người”
ba lần. Và lần thứ tư thật may mắn: Cùng một
chuyến ghe vượt biên với Khánh từ Rạch Giá tới
Thái Lan trong tháng giêng năm 1987. Sau 7 ngày đêm
“ngất ngư con tàu đi”, kể cả 2 ngày đêm ghe bị
hư máy trong cơn băo và mạn ghe bị bể, nước
tràn vào. Nhưng cuối cùng, vào khoảng 12 giờ khuya ngày
thứ bảy, ghe chúng tôi đă vào đến gần bờ
vùng Songkla, một thành phố phía Nam của Thái Lan. Khi c̣n cách
bờ khoảng 300 mét, khi nhận được những
di động của xe cộ trên bờ
qua màn sương đêm, mọi người đều reo
ḥ trong sung sướng. Chú tài công lúc đó, có lẽ bị
quá kích động, chăm chú quan sát trên bờ hơn là việc
giữ tay lái, nhất là lúc đó biển đang gầm thét
bởi những đợt “sóng cọp” dữ dội. Chiếc
ghe bị quay ngang vừa lúc một đợt “sóng cọp”
phủ chụp xuống, ghe nghiên hẵn về một phía,
lúc đó Khánh và tôi đang đứng trên mui ghe, nên cùng bị
ném xuống biển. Với bản năng
sinh tồn, mỗi người tự t́m cách mưu sinh.
Biển đen ng̣m. Nước
lạnh căm căm. Tôi và Khánh bị lạc
nhau trên biển. Tôi vật lộn với
sóng biển để tránh tử thần nhưng vẫn không
quên lâu lâu rờ vào túi áo bên trái để giữ cho một
gói nhỏ không bị rơi xuống nước. Gói này đựng những vật kỷ niệm bằng
inox tôi đă làm cho bà xă tôi lúc c̣n trong tù. Lo chống chỏi
với sóng , với lạnh, không nhớ
tôi đă lặn hụp trong sóng biển bao lâu v́ tôi hoàn toàn
không c̣n ư niệm về thời gian, cuối cùng tôi vào được
đến bờ. Nằm nghỉ một hồi
cho hoàn hồn, tôi chạy đi t́m Khánh. Tôi
kêu “Khánh ơi! Khánh ơi!” thật to nhưng tiếng
kêu của tôi bị át đi bởi tiếng sóng gầm dữ
dội . . . Khi tôi chạy đến đầu cuối một
cầu tàu dài hơn 30 mét, vẫn tiếp tục kêu tên Khánh,
tôi nghe tiếng đáp yếu ớt từ bên dưới một
chân cầu. Khánh đă bơi giạt vào chân cầu
với thật nhiều vết cắt nơi bụng.
Chúng tôi lên bờ. Thoát chết.
Chúng tôi chạy đi t́m chiếc ghe để
biết số phận của những người trên ghe.
Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi t́m thấy
số 26 người c̣n lại, kể cả phụ nữ
và trẻ em đang tụ tập trên băi biển. Mọi người lạnh cóng, rung lập cập;
không một ai lấy được hành lư và tư trang của
ḿnh. Hầu như ai cũng bị xây xát, te tua nhưng rất may mọi người đều
được sống sót. C̣n chiếc ghe th́ bị đánh
giạt vào bờ và bị ch́m cách bờ vài chục mét với
toàn bộ tư trang và “gia tài” của các thuyền nhân đi
t́m tự do . . .”
Có
bạn may mắn hơn, đă ra đi sớm hơn, tránh được
gông cùm tù cải tạo lại có nhiều thời gian con cái
học hành khá thành đạt, cũng là một ơn trên dành
riêng cho kẻ diễm phúc như anh Hoàng đ́nh Phiên, anh Đinh
văn Cương . . .anh Đổ Kiểm lại có một may mắn
khác: trúng số super lotto đă gây dựng được một
ngôi chùa tại Gainesville tiểu ban Georgia trên đất Mỹ.
Nhiều
anh chị đă phấn đấu thành đạt trên đường
thương trường như anh Trần đ́nh Châm đă
mở được Super market, anh Nguyễn quang Phùng đă
mở văn pḥng mua bán nhà đất, anh Lê vă Sanh, anh Triêu
văn Bang đă mở văn pḥng pháp lư; Shop may, liquor như
anh Vũ hữu Veo, anh Vũ minh Diệu; Tiệm nail như
anh Nguyễn đức Hiền, anh Bùi văn Duyên v .v . anh Lê phước Thiệt
dù đă có tuổi cũng phấn đấu lấy được
cấp bằng Tiến sĩ. Anh Hoàng quang Huế lại thành
đạt phần nào trên lănh vực âm nhạc, đă có nhiều
CD phát hành với một số bài ca được ưa
thích như: “Hoa mộng ngày xưa, Thương người
ở lại, Đà Nẳng bóng chiều rơi..” chúng ta đă
thấy anh góp phần trên Paris Bynight 55, anh lại có được
bản “T́nh cha” nhiều người hâm mộ, không thể
thiếu trong dịp lễ Father Day, điều đáng quư
nhất là đặc san K9 nào cũng có nhạc của anh.
Về phần
Đặng kim Lê, Mary Vơ chân thành kể “. . .Chân
trời mới. Chồng tôi được thả
về vào năm 1984. Anh sốt sắng ḥa
nhập vào cuộc sống kham khổ của gia đ́nh.
Anh làm đủ nghề không tên. Tôi hạnh
phúc bên chồng con, không khát vọng ǵ cả, tuy nhiên trong thâm
tâm vẫn mơ ướt sẽ có một ngày tươi
sáng. Cứ thế chúng tôi chung lưng, đấu
cật chung lo cuộc sống, các con đă có thể đi
học được. Năm 1993, gia đ́nh tôi may mắn
qua Hoa Kỳ, diện HO.21. Định cư tại
Orange County cho đến nay. Hai vợ chồng tôi đă lên chức Ông Bà nội
năm 2002. Cám ơn Bề Trên” .Bạn nào muốn biết
rơ chặng đường buông súng của ông Thiếu Tá Hải
quân này xin đón đọc “Chuyện người vợ tù
cải tạo” của nhật báo Viễn Đông.
Trên xứ
người hôm nay, anh nào dù có yếu kém, thiếu may mắn
cũng có được an sinh xă hội
nuôi dưỡng. Số anh em chậm chân đến sau, con
cái đă lớn không mấy thành đạt về học vấn,
nhưng cuộc sống vật chất nơi ăn chốn ở đều ổn định.
Điều đáng
nói sau 30 năm buông súng, qua bao nhiêu phong ba băo táp nghiệt ngă.
Bất cứ ở đâu có đôi ba người là anh em hỏi
han thăm viếng lẫn nhau kể từ
khi mới ra trường, đó là một truyền thống
đặc biệt của K9 thật cao quư. Hiện
tại đang phát triễn tốt đẹp. Theo danh
sách chúng ta có 106 anh em đang sinh hoạt tại hải ngoại
và mười mấy anh em ở quốc nội trong số
280 khi ra trường, cũng c̣n một số anh em c̣n sống
nhưng chưa đủ duyên thuận lợi đến với
hội. Nay v́ tuổi già, sức yếu, tính t́nh
thay đổi, đi lại khó khăn. Ướt
mong v́ tinh thần đồng khóa, anh em nên sốt sắn
lui tới, để c̣n gặp nhau trong những ngày về
già. Hạnh phúc thay khi nằm xuống bên
cạnh c̣n có người thân và bạn đồng khóa.
Xuân Ất Dậu, 2005
Trần
Phước Diễn