KHOA PHẠM CÔNG VĂN
Chúng
ta đă từng nghe: những lời Phật dạy,
những lời Pháp ngữ, những bản Linh văn trong
chốn Thiền môn đă làm cho người sống an
vui,bớt đau khổ và người quá cố thoát
được cảnh tam đồ, siêu thăng Tịnh
độ. Đó là một sự huyền diệu và là một
khoa phạm đặt biệt có khả năng tiêu trừ
nghiệp chướng, giải kết oan khiên để
độ thế. Thật là một khoa phạm rất
hữu ích vậy.
Căn
cứ vào những bản văn cũ, những sáng tác,
nội dung uyên thâm, ảo bí, mang những ư nghĩa vô cùng,vô
tận, dù cho chúng ta muốn bớt hoặc thêm một
chữ cũng không được nữa. Nhưng
những người đi sau càng ngày càng xa dần, lại
thêm trí độn tài hèn, nếu biên chép lại, không sao tránh
được “tam sao thất bổn”.Nhưng nếu
cố chấp cứ giữ nguyên như cũ th́ e rằng
một ngày nào đó trong tương lai sẽ mai một,
nhất là tại hải ngoại. Do đó chúng tôi một
số Cư sĩ Phật tử tá hèn sức mọn,
đă phát tâm truy cứu những bản công văn Phật
giáo cũ bằng chữ Hán hiện có trong tay, Âm sang Hán
Việt hầu góp một phần nhỏ cho những
người đi sau biết được phương cách
hoàng hóa của người xưa hầu ứng phú
đạo tràng hữu hiệu để duy tŕ mạch
đạo trong mọi hoàn cảnh và t́nh huống.
Chắc hẳn, không sao
tránh khỏi khuyết điểm, ngưỡng mong quư
bậc Tôn túc cao minh, quư Thiện tri thức thương
t́nh chỉ giáo và sửa chữa giùm cho.
Nói
đến Khoa Phạm Công Văn trong Phật giáo Việt
nam là đề cập đến nghi thức, nghi lễ và
mẫu mực tất cả các loại giấy tờ
được dùng trong các lễ tiết của dân
tộc. Tất cả nghi thức và ư nghĩa các lễ
trong Phật giáo đều phát xuất từ kim khẩu
đức Phật, hoặc chư Tổ được
ghi lại trong kinh điển. Về sau quư vị Cổ
Đức đă sang định lại cho phù hợp với
nghi lễ cổ truyền của mỗi dân tộc mà không
mất mục đích tối thượng của Đạo
Phật là giải thoát và lợi sanh. Không cổ xuư hay
thoả hiệp những điều mê tín dị đoan
sẵn có của dân tộc đó, ngược lại c̣n
dùng Phật pháp để soi sáng và đẩy lùi bóng
tối mê tín dị đoan. Bằng cách áp dụng
phương tiện hết sức thiện xảo trong
nghi lễ, luôn luôn khế cơ, khế lư cho mỗi
một chúng sanh hầu cứu vớt họ ra khỏi tam
đồ, lục đạo và không bỏ rơi một
chúng sanh nào cả.
Nghi
lễ cổ truyền của dân tộc Việt Nam chúng ta
ít nhiều cũng đă ảnh hưởng nghi lễ Trung
quốc, nhưng với tinh thần Quốc gia ,Dân tộc,
tiền nhân đă gạn lọc để giữ lại
những tinh túy phù hợp với tâm lư, đạo lư làm
người và cuộc sống hàng ngày của dân tộc
để phát triển, và loại bỏ những
điều quá câu nệ, phức tạp, h́nh thức không
cần thiết. Các ngài đă lập nên những bộ sách
Gia Lễ cho toàn dân xử dụng như Thọ Mai Gia
Lễ do ngài Hồ Sĩ Dương hiệu Thọ Mai
người tỉnh Hải Dương -Bắc Việt
viết vào đới Trần, bộ Thành Luận Gia
Lễ do ngài Lê Quư Đôn viết vào đời Lê.v.v...và cận
đại cũng có rất nhiều sách nói về nghi
lễ cổ truyền của dân tộc. Nhưng Phật
giáo được truyền vào Việt nam sớm hơn
những thời điểm này rất xa, nên nghi thức
Phật giáo đă hoà nhập vào nghi lễ phổ thông
của quần chúng Việt nam một cách êm đẹp mà
không thấy có bất cứ một điều ǵ
nghịch lư cả. Nghi lễ Phật giáo đă chứa
đựng nhiều mặt sinh hoạt của xă hội và
con người Việt nam. Trong phạm vi bài này chúng tôi
chỉ khảo sát về phương diện công văn mà
thôi. Khi đọc qua những tài liệu này, chúng ta cũng
hiểu được phần nào công việc hoằng
dương đạo pháp và phương pháp hành tŕ của
người xưa qua phương diện nghi lễ,
hầu rút tỉa được ít nhiều kinh nghiệm
mà ứng phú đạo tràng trong hiện tại và
tương lai, bất cứ ở đâu.
Khoa
phạm Công văn trong Phật giáo Việt nam là những
cách thức, mẫu mực giấy tờ dùng để
biểu bạch lên Tam bảo,hoặc tâu tŕnh lên Thánh,
Thần, Linh, Cô hồn.v.v...trong pháp giới lục
đạo. Mục đích là giúp cho trai tín chủ tóm
tắt những lời phát nguyện, những lời sám
hồi tội khiên, cùng những ước nguyện ḥng
vun trồng công đức, tu hành.
Những
loại văn bản sau đây hiện đang áp dụng:
1/ SỚ: Một
tờ điều trần dâng lên bậc bề trên, trong
Phật giáo Việt nam gọi là sớ hay sớ
đầu, có tính cách như một lời phát nguyện
dâng lên Tam bảo.
2/BIỂU: Nói
đầy đủ là Biểu bạch, nêu rơ ràng sự
kiện cần tŕnh bày lên Tam bảo hoặc chư vị
Bồ Tát.
3/ TRẠNG: Bài
văn giai bày sự việc tŕnh lên Thánh, Thần.
4/ HỊCH: Lời
của người trên hiểu dụ (kêu gọi)
người dưới “vd:Hịch Nguyễn Trăi”.
5/ ĐIỆP: Bản
văn có tinh cách làm sáng tỏ vấn đề để
người xử dụng được dễ dàng trong
việc đi lại hay thi hành nhiệm vụ.
6/ DẪN: Một
thể văn dùng để nói đến một sự
việc khác.
7/ PHAN: Một
khổ vải dài rũ xuống có ghi chữ trên đó
tuỳ theo mục đích của buổi lễ “vd: như
Chẩn tế, bạt độ...”.
8/ BẢNG: Dùng
để yết thị chương tŕnh hành lễ (ngày
nay gọi là chương tŕnh).
9/ NHO: Một lá
cờ có ghi tên của các vị Thần ngũ phương
dùng để triệu thỉnh các Ngài trong một công
việc nào đó.
10/ BÀI VỊ: Tên
chung của một thông báo về chỗ ngồi của
chư vị Thần, Linh.v.v...
11/ THIẾP: Một
bản văn để làm tin.
A/
H́nh thức:
a/ Màu sắc: Sớ,
Biểu, Trạng, Dẫn đều được
viết trên giấy bản màu vàng. C̣n các loại khác
viết trên giấy màu đỏ hoặc trắng.
b/ Kích thước: Ngày
xưa quy định tờ giấy bản dài khoảng 64
phân tây (cm), rộng 40 phân tây (cm), gấp làm đôi theo
chiều ngang, gấp xong, bề dài là 40 cm, bề ngang là 32
cm, xếp thành 4 khổ bằng nhau. Mỗi khổ 8 cm
bằng khoảng 4 ngón tay như người xưa đă dạy:”tiền
nhất chưởng, hậu bán trương”.
c/ Cách tŕnh bày: Phải
viết đúng theo khuôn phép đă được
người xưa quy định như: chỉ
được viết một mặt mà thôi, viết
chữ chân, không được viết chữ thảo.
Hồng danh chư Phật, Bồ Tát, tên kinh, chú phải
viết hoa lên hàng đầu hoặc giữa hàng gọi là
Đài hay Đài lọng (nếu viết theo kiểu chữ nho
xưa). Phía trên đầu tờ giấy phải chừa
một khoảng trống bằng một lóng tay giữa
(khoảng 3 cm), phía dưới cùng tờ giấy phải
chừa một khoảng nhỏ nhất cũng phải
đủ đường cho một con kiến ḅ
(khoảng 2 cm) như người xưa đă căn
dặn:”Thượng thông thiên đường, hạ
triệt nghị tẩu”.Phần cuối cùng ghi ngày, tháng,
năm và vị dâng sớ kư tên và đóng dấu.
B/
Nội dung:
a/ Nội dung của
Sớ, Biểu.v.v...căn cứ vào bài kệ trong phảm
“Biểu Bạch” ở tập luận “Thuyết pháp Minh
nhẫn” như sau:
Biểu bạch Tam
bảo cảnh.
Đồng biệt trú tŕ
Phật.
Tiên tán tu thiện
thể,
Tứ thán thí chủ ư.
Thánh linh thành Bồ
đề,
Thánh chúng nguyện thành
tựu.
Hồi hướng pháp
giới chúng,
Chư Thiên tăng uy
quang.
Nghĩa là: Tờ sớ,
biểu dâng lên Phật, Bồ Tát...(Tam bảo) là phải
nêu rơ dâng lên vị nào: đồng trú tŕ Phật hay biệt
trú tŕ Phật, tức là dâng lên một đức Phật
hay nhiều đức Phật. Điều trước tiên là
phải tán dương công đức tu thiện của
ngài, sau đó nói rơ và ca ngợi thành ư của thí chủ,
cầu nguyện bậc Thánh Linh phát tâm Bồ đề,
lắng nghe cùng độ tŕ cho lời nguyện của
chúng sanh được thành tựu. Tiếp theo là hồi
hướng khắp thảy chúng sanh và cầu nguyện
chư Thiên đều được tăng phần oai
nghiêm, sáng lạn.
b/ Văn thể: Các ḷng
sớ, biểu... đều tuỳ cơ duyên mà
trước thuật, phải hợp vào cảnh huống
lúc khấn nguyện, tức là khế cơ và khế lư,
nên chư Tổ ngày xưa, các vị Cổ Đức, các
vị thiện trí thức, Cư sĩ, Phật tử uyên
bác đă trước thuật nội dung các lá sớ,
biểu.v.v... để dâng cúng Phật, chư Bồ Tát.
Theo quan niệm chư Phật là bậc Thế tôn, nên cách
hành văn cho đến văn thể đều có quy cách
nhất định, thường theo thể văn
Biền ngẩu đối nhau rất sát (đối câu,
đối chữ, đối ư...).
Ví dụ: Nhứt
niệm chí thành đối Thập phương cảm cách.
Ta bà Giáo chủ hoằng
khai giải thoát chi môn đối Cực lạc Đạo
sư tiếp dẫn văng sanh chi lộ.
Phước, thọ,
khương, ninh năi nhân tâm chi tự nguyện đối
Tai, ương, hạn, ách bằng Phật lực dĩ
siêu thăng.v.v...
Hầu hết các ḷng
văn sớ, điệp...của Phật giáo Việt nam
đang xử dụng đều ở trong bộ Tâm Nang và
Thiện bổn. Nhưng càng về sau càng có nhiều
việc xẩy ra như lễ thành hôn tại chùa chẳng
hạn, dù ḷng sớ đă được trước tác
nhưng chưa được ghi vào các bộ công văn
của Thiền môn để áp dụng. Do đó bất
cứ ai, dù xuất gia hay tại gia có văn tài liễu
đạt nghĩa kinh đều có thể trước
thuật và làm bản văn mẩu mực cho người
sau tùy duyên mà xử dụng sau khi đă được các
ngài Cao tăng, Đại đức trong giới Thiền môn
chấp nhận.
Tóm
lại: Sớ, Biểu, Trạng, Hịch...là những án
văn chương tuyệt tác, có vần có điệu
được tŕnh bày một cách hợp đạo,
khiến người đọc cảm thấy ḥa ḿnh vào
mà tự phát nguyện dâng trọn niềm tin lên chư
Phật, chư Bồ Tát, xem như phương tiện
dắt người vào đạo. Trên phương diện
tinh thần là những yếu tố gây niềm tin một
cách vững chắc đối với trai tín chủ.
Khoa
phạm công văn trong Phật giáo Việt nam là một công
việc khá năng nề, đ̣i hỏi người
đảm trách phải có kiến thức chuyên môn và tinh
thần trách nhiệm để ứng phó và giải
quyết tất cả mọi vấn đề từ trên
bàn thờ đến tận nhà bếp, và phải có tinh
thần cầu tiến, thường xuyên học hỏi
với các bậc tôn túc, các vị chuyên khoa nghi lễ
về các ngành thuộc khoa đó như: cách xử dụng
các loại pháp khí, am hiểu các cung điệu, lễ
nhạc, am tường khoa nghi, ư nghĩa các bài kệ
để xử dụng đúng chỗ, đúng lễ, biết
cách tổ chức các loại đàn tràng hầu giúp trai
chủ hoàn thành sở nguyện. Đăc biệt nhất là
phải sang bằng tất cả mọi trở ngại
xẩy ra trong tiến tŕnh cung hành nghi lễ để tránh
bỏ mất bất cứ một lễ lạc nào đă
có trong chương tŕnh. Được như vậy th́ âm
dương đều lợi lạc.
Next