TỨ ÂN

 

            Mọi sự vật đều dựa vào nhân duyên sinh tồn. Con người ư thức điều ấy, xem như một đối tác có trọng trách trân quư, biểu dương, thù tạc. Đó là ân nghĩa vợ chồng, ân t́nh cha con, ân đức thầy tṛ, vua tôi, đồng bào, nhân loại, thường t́nh trong thế gian.

            Phật giáo nhận chân có những cái làm trở ngại trên đường thoát tục, nên khi xuất gia cần phải cắt đứt như t́nh cha con, nghĩa vợ chồng đă được đề cập trong một bài kệ như sau:    

 (âm Hán Việt)                            

Lưu truyền tam giới trung,         

Luân chuyển trong ba cơi

Ân ái bất năng thoát.                 

Khí ân nhập vô vi,                         

(tạm dịch)

Ân ái chẳng giải thoát

Dứt ân vào vô vi

Chân thật báo ân giă.

Mới thật người báo ân                  

(Pháp Uyển Châu Lâm quyển 23: Tăng lữ xuất gia.)

 

            Trong nhiều kinh sách nhà Phật đề cập đến cái ân như trong:

Kinh chánh pháp niệm Phật quyển16 đề cập đến: ân cha, ân mẹ, ân Như Lai, ân Pháp sư.

Trí giác thiền sư tự hành lục Thích thị yếu lăm quyển trung lại nói: Sư trưởng ân, Phụ mẫu ân, Quốc vương ân, Thí chủ ân.

Đại tạng pháp số quyển 23 nói: Thiên hạ ân, Quốc vương ân, Sư tôn ân, Phụ mẫu ân. Trong Pháp Uyển Châu Lâm quyển 50, Đại thừa bổn sanh tâm địa quán quyển 2, Giáo thừa pháp số quyển 13, Thích tịnh độ quần nghi luận tham yếu kư quyển 7, Tứ ân hiếu thuận sao . . . đều giải thích rất rơ ràng . Chúng tôi có thể quy kết thành bốn ân trọng chính như sau: ân Tam bảo, ân cha mẹ, ân quốc gia xă hội và ân pháp giới chúng sanh.

Trong Tam bảo: Phật là đấng toàn giác, tự giác giác tha, là thầy của trời và người, cùng các bộ chúng khắp tất cả các loài chúng sanh, giải thoát mọi loài từ bến mê về bờ giác, từ bể khổ đến bờ an vui, b́nh đẳng, tự tại. Chưa một ai có cái thấy biết bằng Phật, không một ai ban ơn bố thí bằng Phật và không một ai b́nh đẳng như Phật, khẳng định mọi chúng sanh đều thành Phật. Một công đức viên măn cho cả thế gian và xuật thế gian.

Tất cả ư nghĩa đều dựa vào 6 loại công đức vi diệu: Công đức hải, công đức bảo, công đức tạng, công đức tụ, công đức trang nghiêm, công đức lâm. Thường làm lợi cho tất cả chúng sanh. Ân Phật là không thể nghĩ bàn.

            Pháp bảo có 4 loại: Giáo pháp để phá cái vô minh, phiền năo, nghiệp chướng cho tất cả các loại hữu lậu như âm thanh, văn, cú . . .

            Pháp lư bao gồm các pháp luận có và không.

            Pháp hành là giới định tuệ và các hạnh.

            Quả pháp thu đạt quả hữu vi và vô vi.

Bốn loài pháp bảo này dẫn dắt chúng sanh ra khỏi bể sanh tử đến bờ giác. Tam thế chư Phật đều y theo pháp để tu hành, đoạn trừ tất cả chướng ngại để thành tựu Bồ Đề. Và giúp chúng sanh c̣n lăn trôi được lợi lạc trong vị lai. V́ thế mà chúng sanh chưa giải thoát phải miên mật thành kính thực thi pháp bảo, ắt có ngày tỏ ngộ. Ân Pháp bảo thật là không thể nghĩ bàn.

            Tăng bảo có 3 loại: Bồ tát tăng, Thanh văn tăng và Phàm phu tăng. Thành tựu đươc giải thoát có đầy đủ tất cả chánh kiến, có thể v́ đại chúng mà khai thị Thánh đạo. Ba loại tăng bảo này cũng gọi là Chơn bảo tăng. Ngoài ra c̣n có một loại gọi là Phước điền tăng như Xá lợi Phật, Tôn tượng Phật và giới luật mà Phật đă chế. Phải kính trọng và tin tưởng một cách sâu dày, có thể khiến ḿnh và người đều không bị tà kiến, lại có thể tuyên dương chánh pháp, tán thán nhứt thừa; lại càng tin sâu nhân quả, thường phát thiện nguyện, tuỳ lúc mà sám hối những sai phạm, trừ các nghiệp chướng. Tất cả các loại Tăng bảo nêu trên đều làm lợi cho hữu t́nh. Ân Tăng bảo là không thể nghĩ bàn.

            Với cha mẹ, “công cha như núi Thái sơn” :Qua nghiệp lực , huyết thống mới có tấm thân ta. Ngoài ra bao nhiêu công lao chăm sóc, nuôi dưỡng, sửa trị , trao nắn từ tấm bé cho con nên người, theo dơi bước chân con để nâng đỡ khi vấp ngă, chịu đựng, chia sẽ cùng con những thành công cũng như thất bại trong cuộc đời. Biết nói sao cho hết cái đức nghiêm từ của cha. “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Ḷng bi mẫn của mẹ bao la qua các đức tính:

Đại địa: Cưu mang nặng nhọc, giữ ǵn bảo toàn cho con.

Năng sanh: Mẹ sanh đẻ đớn đau, muôn ngàn cay đắng.

Năng chính: Mẹ sinh con chỉ biết có con, quên nghĩ đến ḿnh.

Dưỡng dục: Mẹ nuốt đắng ,nhă ngọt cho con.

Trí giả: Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.

Trang nghiêm: Mẹ ẩm bồng bú mớm cho con lúc thơ ấu.

An ổn: Mẹ chịu bao dơ dáy, tắm rửa giặt giũ.

Giáo thọ: Xa con một phút mẹ trông nhớ không nguôi.

Giáo giới: Mẹ nuôi con mà cam ḷng tạo bao ác nghiệp.

Sự nghiệp: Mẹ suốt đời lo lắng cho con, để lại gia nghiệp.

Qua công ơn lớn lao của cha mẹ, bổn phận làm con phải:

            “Một ḷng thờ mẹ, kính cha.

            Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con”.

Khi cha mẹ c̣n sống nên phụng dưỡng, giúp đỡ lúc già yếu, thăm viếng, an ủi lúc cô đơn. Điều quan yếu phần tinh thần, giúp đỡ hướng thiện về với chánh đạo. Một đơn cử: Ngài Bạch Ẩn nhiều lần cầu thỉnh khuyến mời phụ thân niệm Phật không được. Ngài bày kế nhờ Phụ thân niệm Phật lấy tiền. Không lâu Phụ thân đă niệm Phật với ḷng thành chân thật v́ đạo không c̣n nhận tiền. Thiết nghĩ đó là một cách báo hiếu hợp lẽ đạo hiện tiền. Ngoài ra khi cha mẹ quá văng, thờ phượng , cầu độ bằng việc thiện, tụng kinh, phóng sanh để hồi hướng cho cha mẹ cũng là việc tốt nên làm.

            Với quốc gia xă hội, nếu được thạnh trị, an ổn, có chánh trị nghiêm minh, có nhân quyền ḥa ái, thượng tôn luật pháp. Tâm linh đạo giáo phát triễn đem lợi ích cho nhân quần, trên dưới một ḷng mở mang dân trí, mọi sự hạnh thông.

Trái lại một quốc gia kỷ cương không minh chính, lấy ác báo dấy nghiệp, th́ hoạn nạn, tai ương sẽ hoành hành. Cuộc sống vật chất đến tinh thần sẽ suy vi điên đảo. Xă hội loạn lạc, chia ĺa. Bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải có bổn phận báo bổ.

            Thời Lư, sư Vạn Hạnh đă là quốc sư chỉ hộ quốc khi hữu sự, ngài không nhận ngôi vị quốc giáo. Thời Trần, vua Trần Nhân Tông, Trần Thái Tông, rũ bỏ vương quyền về Trúc lâm tịnh tu, nhưng quư ngài đă trở lại dẹp loạn, khi thế giặc tan, ngài ung dung về chùa không hệ lụy tham đắm thế tục, một thời thạnh trị biết là dường nào. Biết bao nhà sư đă nêu gương báo quốc. Gần đây dưới thời Pháp thuộc, chống ngoại xâm, các nhà sư đi theo kháng chiến cũng không ít: Mật Nguyện, Mật Thể, Đôn Hậu . . .Sau 1975 Ngài Đôn Hậu cũng tuyên bố: bây giờ đất nước thống nhất, ngài xin trở về chùa phụng sự đạo pháp. Ngài Huyền Quang cũng ở trong liên khu 5 trước kia, chỉ một việc mong báo quốc bằng cách không hệ lụy với thế tục làm bàn đạp cho chính trị qua Mặt Trận Tổ Quốc. Đă hơn 20 năm tù tội không bản án. Xác thân quư ngài hẳn là có nhọc nhằn, nhưng giữ cho Phật giáo trọn ân với quốc gia, là không đồng lơa làm phương hại lương dân. Gần đây Ngài cũng đă nhắc nhở: “T́nh h́nh giáo hội có lúc vẽ vang, có lúc bi thảm, có lúc nội bộ phân hóa, nhưng giới Tăng già phải biết từ bỏ quyền lợi riêng tư để tiến xa trên con đường tịnh hạnh . . .v́ sự vinh quang của đạo pháp và dân tộc. (Đạo từ đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Đại hội kỳ 3 tại Hoa kỳ).

Hầu hết chúng ta không chịu nổi sự hà khắc kềm kẹp của Cọng sản phải ra đi. Cùng chung đứng dưới ngọn cờ tượng trưng khối người Việt tại Hải ngoại thiết nghĩ là điều thiết thực, đúng đắng, không một ai trong chúng ta thiếu ư thức quên đặt lá cờ trong các nghi thức lễ hội. Đó cũng là một biểu tượng gợi cho ta nhớ ơn quốc gia xă hội vậy.

Pháp giới chúng sanh, một quần thể tương duyên hổ trợ, người đi cày không thể thiếu cái cày và con trâu, giới xuất gia tu hành không thể quên ơn thí chủ cúng dường. Trong thế gian t́nh đồng bào nghĩa nhân loại, chia sẽ cùng nhau con sông , giếng nước, lề thoái, tập quán; môi trường sống, những thuận lợi nhà cửa, phương tiện giao thông , truyền thông, văn minh vật chất, không khí trong lành. Thiền môn, Tịnh xá được ấn định trong thời khóa: mỗi lần thọ trai, qua đường phải nghĩ công ơn nhiều ít để có phần ẩm thực. Mỗi tháng 2 lần có chúc lễ thù ân. Toàn thể Tăng chúng từ Trụ tŕ trở xuống phải đại vị đảnh lễ Tam bảo, kể cả người gánh củi, xách nước.

Giáo pháp bao đời được ǵn giữ, trao truyền cho đến nay cũng phải bao bàn tay khéo léo trân quư châm sóc trong hành tŕnh hộ pháp, chúng ta phải ghi nhớ cái ân trọng đại ấy. Hơn nữa từ vạn kiếp đến nay đă từng là đa sanh phụ mẫu trong muôn loài. Đó là một trọng ân .

Tóm lại trong 4 ân lớn, ân Tam bảo: Phật Pháp Tăng không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên trong Phàm phu tăng đôi khi gặp chướng duyên, nghịch cảnh, chúng ta cần phát tâm đóng góp hổ trợ vượt qua đúng pháp. Ân cha mẹ thật to lớn, nay phải tích cực giúp đỡ quư cụ qua cảnh cô đơn già yếu. Có được tinh thần hướng thiện tín tâm, an vui tịnh hạnh hiện tiền hơn là để lúc quá văng phải hối tiếc. Về quốc gia dân tộc trong lúc nhân tâm xao xuyến bị cưỡng bức niềm tin. Trên th́ tranh ngôi đoạt vi,tham ô nhũng lạm. dưới th́ sa đọa, cướp bóc, bán ḿnh, bán máu, phải biết đứng về lẽ phải, không đồng lơa với cái ác. Trong t́nh pháp giới chúng sanh, phải biết chia xẽ với với cô gái bán ḿnh ở Đài Loan, cụ già bán máu ở làng Nổi, với người nông dân bị cướp vườn, cướp ruộng, nâng đỡ kẻ sa đọa. Thiết nghĩ như vậy cũng góp được phần trong việc báo ân vậy.

 

Tâm Pháp