Những định lư toán học và doanh nghiệp hửu ích cần thiết 

Thế nào gọi là " định lư " , sơ lược dẫn chứng thí dụ như về các khoa học như : khoa toán học , khoa kinh doanh ...v...v.. Do v́ trong mổi khoa nó được h́nh thành tạo dựng tŕnh tự theo quy luật tự nhiên để trở thành một học thuyết nhất định . Những quy luật của khoa, khi chứng minh nó không thoát vượt ngoài sự thay đổi tính chất cấu trúc của nó và luôn cần phải có các điều kiện tự nhiên hiện hửu theo một quá tŕnh lư thuyết nhất định để làm trụ cột căn bản cho chính nó , để tiến tŕnh cấu tạo trở thành một dạng thể nhất định nào đó. Có thể sự dạng thể là hữu h́nh hoặc vô h́nh hay trừu tượng ..v..v..
Tóm lại nó giống như một nền tăng định hướng cho tiến tŕnh giai đoạn phát triển vào một mục tiêu quan điễm hoặc một vụ việc cần thiết nào đó,  mà  con người mong muốn đạt được ư nguyện thoă măn đă qua một giai đoạn nghiên cứu t́m ṭi chứng minh để đạt đến kết quả thành định luật hữu lư.

Định lư thường là một cấu trúc hửu ích nó giúp ta nhận thức trước sự hiểu biết vấn đề một cách nhanh và đồng thời dựa vào đó để thực hiện các tiến tŕnh tính toán cho thích hợp với công việc mà ḿnh cần phải tiên liệu trước, v́ trong quá tŕnh thực hiện chúng ta không thể thoát khỏi các định lư cơ bản . 

Dưới đây là 28 định lư mà tôi c̣n nhớ đă có được học qua và một số đă được đọc trong các sách vở của các học giă tiền thân như sau : 

A - Định lư của Euclide :
1) Hai số lượng đều bằng một số lượng thứ ba , hai số lượng ấy bằng nhau .
2) Hai số lượng đều bằng phân nửa số lượng thứ ba, hai số lượng ấy bằng nhau .
3) Hai số lượng đều bằng xấp đôi số lượng thứ ba, hai số lượng ấy bằng nhau .
4) Hai số lượng bằng nhau thêm vào hai số lượng bằng nhau, tổng số củng bằng nhau .
5) Hai số lượng bằng nhau rút bớt trong hai số lượng bằng nhau, tổng số cũng bằng nhau .
6) Hai số lượng bằng nhau thêm vào hai số lượng không bằng nhau , tổng số không bằng nhau .
7) Hai số lượng bằng nhau rút ở hai số lượng không bằng nhau, số c̣n lại không bằng nhau .
8) Hai khối lượng để chồng lên nhau và choáng một không gian như nhau , hai khối lượng ấy bằng nhau .
9) Toàn thể lớn hơn một phần .
10) Hai đường thẳng không làm thành một diện tích .
11) Tất că các góc thẵng đều bằng nhau .

B- Định lư của Playfair :
12) Hai đường thẵng gặp nhau th́ că hai không cùng song-song với đường thẵng thứ ba .
 
C- Những định lư doanh nghiệp ( axioms of business ) của Herbert N. Casson :
1)  Trong công việc kinh doanh th́ tối thiểu ( ít nhất ) phải có từ hai người trở lên .
2)  Có 3 yếu tố trong một cuộc doanh nghiệp : người mua , người bán và hàng hoá .
3)  Gía bán bằng (=) tổng số tiền mua cộng ( + ) tiền lời . 
4)  Hàng hoá càng nhiều th́ giá bán càng hạ , hàng hoá khan hiếm th́ giá bán cao .
5)  Đặc điễm của người mua là họ thường chú trọng vào món hàng hơn là giá bán món hàng .
6)  Thời gian càng trôi qua th́ càng làm tăng giá vốn .
7)  Sự chuyễn dịch làm tăng giá vốn .
8)  Sản xuất tăng giá vốn hạ .
9)  Gía vốn = tổng số tiền mua ban đầu + sở phí bảo quăn ǵn giử .
10) Trước khi ước lượng tiền lời , phải tính tổng chi phí .
11) Sự nguy hiễm tăng bao nhiêu th́ tiền lời tăng bấy nhiêu .
12) Tất că những giá trị không tránh sự trồi , sụt .
13) Gía trị hoặc là trực tiếp hoặc là hoăn triễn .
14) Tiền bạc tức là vàng .
15) Nhờ những con số trung b́nh mà biết đựơc kết quả .
16) Tương lai của công việc doanh nghiệp hướng đến tổ hợp và tập đoàn . 

Trong 16 định lư doanh nghiệp ghi nhận trên đây , hy vọng nó có thể giúp ích được phần nào cho những ai đang bắt đầu chuẩn bị công việc kinh doanh làm ăn có một khái niệm trước khi thực hiện (vào đây xem bài về dạng thức điều luật Công Ty Thương Măi ) . Về phần hửu dụng khác th́ nó cũng giúp thêm kiến thức riêng cho một số nhà doanh nghiệp, mặc dù họ đă thành thạo trong công việc làm ăn , nhưng có thể chưa có kinh nghiệm hiểu biết hết một trong 16 định lư trên đây . V́ thế trong quá tŕnh tính toán kinh doanh đă làm họ có thể bị thất bại trong thương trường .

Cần lưu ý : Toàn bộ hệ thống kinh tế thịnh suy là tùy thuộc vào tình hình biến động chính trị tại quốc gia đó, từ đó nó làm ảnh hưởng chung trong toàn khu vực. Những quốc gia có thể chế chính trị không ổn định có thể làm cho nhà doanh nghiệp đi đến khánh tận một cách nhanh chóng nếu nhà doanh nghiệp không biết tiên đoán trước những diển biến thời sự liên quan . Thường các quốc gia có thể chế chính trị độc tài thì việc kêu gọi chính sách đầu tư của các nhà doanh nghiệp nước ngoài là một phương sách tối ưu để duy trì nuôi dưởng một chế độ độc tài ổn định lâu dài . Do đó nhà đầu tư nước ngoài , sau khi đả bỏ vốn đầu tư vào thì sẻ bị chiếm dụng vốn cố định ngầm và phải chịu sự kiểm soát về hệ thống quản trị tài chánh của chính quyền sở tại . Tỷ lệ chia lợi nhuận nếu có lãi thì rất khó lòng mang ra nước ngoài , vì thường các quốc gia này luôn bị thiếu hụt vốn đầu tư để phát triển vào các lảnh vực khác ,do đó nhà đầu tư nước ngoài không khéo tính tóan thì sẻ bị thâm hụt hay bị mất một phần vốn cố định do quá trình hoạt động kinh doanh . Không nên đầu tư kinh doanh hình thức này vì nó không có lợi cho nhà đầu tư cá nhân . Hình thức đầu tư vào các quốc gia có dạng thể chế chính trị độc tài này thì hiện nay chỉ có lợi cho các tập đoàn đa quốc gia vì nó có sự liên kết các vấn đề chính trị quân sự liên quan khác nếu có xảy ra tranh chấp .

Holland LTD