CÚNG SAO
Hàng năm vào ngày
rằm tháng giêng thường gọi là Lễ Thượng
Nguyên, đa số người Việt Nam chúng ta thường cúng sao tại
chùa hay tại nhà để cầu giải trừ tai ương,
tật bệnh trong năm .
Nhân dịp năm củ sắp qua, năm mới sắp
đến chúng ta sẽ t́m hiểu về nghi thức Cúng
Sao gọi theo danh từ nhân gian.
Trong Nghi Lễ Phật Giáo Việt Nam thường gọi
là Lễ Dược Sư Nhương Tinh Giải Hạn. Đây là một thực tế,
chúng ta sẽ t́m hiểu về nghi thức của lễ nầy.
Theo sách Phật
Giáo Đại Tạng kinh Trường Tế Mục Lục
có ghi một số kinh sách liên quan đến “Sao” như
sau:
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Cập Chư Thiên
Sở Thuyết Cát Hung Thời Nhật Thiện Ác Tú Diệu
Kinh, Chư Tinh Mẫu Đà La Ni Kinh, Phật Thuyết Thánh
Diệu Mẫu Đà La Ni Tinh, Tú Diệu Nghi Quỹ, Bắc
Đẩu Thất Tinh Tụng Niệm Nghi Quỹ, Bắc Đẩu
Thất Tinh Hộ Ma Bí Yếu Nghi, Phật Thuyết Bắc
Đẩu Thất Tinh Diên Mệnh Kinh, Thất Diệu Nhương
Tai Quyết, Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp, Bắc
Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Pháp… Ngoài ra trong sách Nhị
Khóa Hiệp Giải, khi nói đến 16 vị Đại Đệ
Tử của Phật trong kinh Di Đà c̣ hai ngài liên quan đến
tinh tú đó là Ngài Ly Bà Đa và ngài Kiếp Tân Na và rải rác
trong nhiều kinh sách khác như kinh Ma Đăng Già, Xá Đầu
Luyện Thái Tử Nhị Thập Bát Tú, Phật Mẫu Đại
Khổng Tước Minh Vương. . .
Tinh
tú có quan hệ và ảnh hưởng như thế nào đến
con người?
Lẽ
dĩ nhiên là mọi vật chung quanh chúng ta, hay xa hơn như
mặt trăng, mặt trời, tinh tú v.v… đều có ảnh
hưởng đến mỗi một chúng ta. Theo phép thiên văn
Ấn Độ ngày xưa tinh tú c̣n gọi là tú diệu
trong đó phân chia ra Nhị Thập Thất Tú (27 ngôi sao), Thập
Nhị Cung (12 Cung), Cửu Diệu (9 sao) và Thất Tinh (7
sao). Riêng Trung Quốc lại có 28 sao (Nhị Thập Bát Tú:
Thêm sao Ngưu). Mọi sự việc của cơi Trời và
cơi người thường phản ánh lẫn nhau, hiện
tượng dữ, lành đều hiện ra nơi tinh tú.
Các phép dự đoán hiền dữ, tốt xấu theo tinh
tú, như trong kinh Tú Diệu Ngài Bồ Tát Văn Thù đă nói
với chúng ta rằng: giờ, ngày, tháng, năm sinh của
mỗi một con người cùng theo sự biến hóa của
sao ở trên trời, lịch pháp theo đường Hoàng Đạo
thời tiết cũng thay đổi, vận hàng của mặt
trời và mặt trăng cũng thay đổi. Cho nên khí lực, thể lực,
vận mạng cùng sự tốt xấu, may rủi, tai kiếp,
vinh lộc, tài vận, sức khỏe, cảm t́nh, con cái,
cháu chắt, sự nghiệp v.v…của con người đều
tương quan chặt chẽ vơí nhau.
Đây là một vấn đề liên quan đến
thiên văn, tôn giáo và cả tín ngưỡng nhân gian nữa,
nên chỉ xin tŕnh bày tổng quát để người Phật
tử chúng ta có một khái niệm về việc cúng Sao mà
thôi.
1. Nhị thập
thất tú tức là 27 sao gồm: Tinh, Trương, Dực,
Chẩn, Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu,
Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Măo, Tất,
Chủy, Sâm, Tỉnh. Quỹ, Liễu. (Riêng Trung Quốc lại
có thêm sao Ngưu là 28 nên gọi là nhị thập bát tú). Phật
Giáo Việt Nam chỉ thấy dùng Nhị Thập Bát Tú trong
Đàn Giải Oan Bạt Độ vào những năm cuối
thập niên 90 đến nay, c̣n trước năm 1995 không thấy mặc dù trong nghi thức
có ghi, đây cũng là v́ đáp ứng nhu cầu của nhân
gian theo mỗi thời đại và dân tộc.
2.
Theo Mật giáo, Kim Cương Bộ viện vị trí ở
ngoài Mạn Đà La của Thai Tạng Giới, chia làm hai phần:
Thái dương có: cung Sư Tử, cung Nữ, cung Xứng,
cung Yết, cung Cung, và cung Ma Yết. Thái âm có: cung Bảo B́nh, cung Ngư, cung Bạch Dương,
cung Kim Ngưu, cung Nam Nữ,
và cung Giải. Phân theo phương
hướng có: Hướng Đông: Cung Nam Nữ, cung Bạch Dương,
cung Kim Ngưu. Hướng Tây:
Cung Xứng, cung Yết, Cung Cung.
Hướng Nam: Cung Bảo B́nh, cung Ngư, cung Ma Yết. Hướng Bắc: Cung Giải,
cung Sư Tử, Cung Nữ. 12 cung nầy so với Thiên văn
học ngày nay chỉ khác một ít tên gọi c̣n đa số
là giống nhau.
3.
Cửu Diệu: (Diệu là ánh sáng chói lọi, long
lanh), là 9 thứ phát ra ánh sáng mạnh ở trên trời, tục
gọi là 9 sao hay c̣n gọi là cửu chấp. Trong Đại Nhật Kinh Sớ
nói: Chấp có 9 loại gồm có 9 sao là: 1. Nhật (mặt
trời = Thái dương), 2. Nguyệt (mặt trăng = Thái
âm), 3. Thủy = Thủy diệu, 4. Hỏa ( Hỏa tinh = Vân
Hớn), 5. Mộc (Mộc đức), 6. Kim (Thái Bạch),
7. Thổ (Thổ tú) 8. Sao La Hầu, 9. Sao Kế Đô. Riêng Phật Giáo nếu xét về
bản địa th́:
- Nhật là Quan Âm hoặc Hư Không Tạng.
- Nguyệt là Đức Thế Chí hoặc Thiên
Thủ Quan Âm.
- Thủy là Đức Vi Diệu Trang Nghiêm Thân
Phật hoặc Thủy Diệu Quan Âm.
- Mộc là Đức Dược Sư Phật
hoặc Mă Đầu Quan Âm.
- Kim là Đức A Di Đà hoặc Bất Không
Quyến Sách.
- Thổ là Đức Tỳ Lô Giá Na Phật hoặc
Thập Nhất Diện Quan Âm.
- La Hầu là Đức Tỳ Bà Thi Phật.
- Kế Đô là Ngài bất không Quyến Sách.
4.
Thất Tinh: Thất tinh là 7 v́ sao ở hướng Bắc
và h́nh như cái đấu (đẩu) thường gọi
là Đại Hùng Tinh, Trong kinh
“Phật Thuyết Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mệnh
Kinh” chép rằng: Tại cung Trời Tịnh Cư (Tịnh
Cư Thiên cung), ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thỉnh
cầu đức Phật giải thích về ảnh hưởng
của 7 ngôi sao tức Bắc Đẩu Thất Tinh. Đức Bổn Sư trả lời
rằng: tên 7 v́ sao đó là Thánh hiệu của 7 vị Cổ
Phật như sau:
1. Tham Lang là Đông Phương
Tối Thắng Thế Giới Vân Ư Thông Chứng Như
Lai.
2. Cự Môn là Đông Phương
Diệu Bảo Thế Giới Quang Âm Tự Tại Như
Lai.
3. Lộc Tồn là Đông
Phương Viên Châu Thế Giới Kim Sắc Thành Tựu
Như Lai.
4. Văn Khúc là Đông Phương
Vô Ưu Thế Giới Tối Thắng Cát Tường Như
lai.
5. Liêm Trinh là Đông Phương
Tịnh Trụ Thế Giới Quảng Đạt Trí Tuệ
Như lai.
6. Vơ Khúc là Đông Phương
Pháp Ư Thế Giới Pháp Hải Du Hư Như Lai.
7. Phá Quân là Đông Phương
Măn Nguyệt Thế Giới Dược Sư Lư Ly Quang
Như Lai.
Ngoài ra c̣n có 2 vị Nội
phụ và Ngoại bật là:
8. Động Minh Ngoại
Phụ Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Hỷ Thế
Giới Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát.
9. Ẩn Quang Nội Bật
Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Viên Thế giới
An Lạc Tự Tại Bồ Tát.
Đức Phật dạy
tiếp: Nếu có Thiện nam, Tín nữ cứ mỗi năm,
tháng giêng ngày mồng 8, tháng 7 ngày mồng 7, tháng 9 ngày mồng
9 sắm sửa hương hoa, nước sạch, cắm
đèn theo h́nh Thất Tinh, thay y phục sạch sẽ cúng
dường trước Tinh Tượng (h́nh ảnh của
Thần Sao) tức 7 vị Cổ Phật trên, tùy tâm sở
cầu, sẽ có cảm ứng.
Bảy vị Phật trên là Thất Phật Dược
Sư tức là Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương
Như Lai, bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương
Như Lai, Vô Ưu Tối Thắng cát Tường Như
Lai, Pháp hải Lôi Âm Như lai, Pháp Hải Thắng Tuệ
Du Hư Thần Thông Như Lai và Dược Sư Lưu Ly
Quang Như Lai. Như vậy
là 7 vị Phật Dược Sư đă hóa thành Hộ Pháp
Tinh Quân của Đạo Giáo Trung Quốc.
Trên đây là tóm tắt những
sự liên hệ trong các kinh điển giữa Sao và Phật
giáo.
Việc
cúng “Sao” thường bị coi như là không chánh pháp. Như
vậy có đúng không?
Nếu cung hành bất
cứ một lễ ǵ mà không đúng nghi thức đều
sai chánh pháp. Bởi v́ trong thời gian mạt pháp nầy
ranh giới giữa tín ngưỡng nhân gian và Phật giáo rất
khó phân biệt cũng v́ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng
nhân gian một cách quá mức độ như trong chùa có bói
toán hay xin xăm v.v… Do đó mà trở thành xa chánh pháp. Người Phật tử ai cũng
hiểu được muốn có kết quả cho những
lời cầu nguyện của ḿnh, chính ḿnh phải qui hướng
về chánh pháp, dùng sự tu thiện tích phước, sám hối,
tụng kinh, niệm Phật để đạt được
mục đích cầu nguyện. C̣n tín ngưỡng nhân gian
lại dùng hành vi mua chuộc,
hối lộ Thần Thánh để hy vọng thỏa
măn ư nguyện của ḿnh. Chúng ta hăy trở lại nghi thức
cúng “Sao”, ai cũng biết rất rơ có hai cách cúng: tại chùa
và tại tư gia. Nếu theo đúng nghi thức mà nghi lễ
Phật giáo Việt nam đă có từ xưa đến nay
th́ đúng chánh Pháp, làm trái lại th́ sai chánh pháp bởi v́
theo định nghĩa, Nghi Thức là sự tác pháp ( Kinh Pháp
Hoa, Phẩm Phương Tiện: “Nghi thức thuyết pháp
của chư Phật ba đời”. Ví dụ: Nghi Thức
Tiến Linh theo Phật giáo hoàn toàn khác với nghi thức Cúng
Giỗ của dân tộc. Do đó
mà cung hành không đúng Nghi thức sẽ không đạt mục
đích tối hậu của Phật Giáo là âm siêu, dương
thái.
Trước khi nói đến Nghi Thức cúng
“Sao” tôi xin nhắc lại: như đă tŕnh bày ở trên, Thập
Nhị cung, Cửu Diệu, Thất Tinh đều là danh hiệu
cũng như hóa thân của chư
Phật và Bồ Tát để cứu giúp chúng sanh khỏi
tai ách. Cho nên chúng ta cúng dường lên chư Phật, chư
Bồ Tát là hợp lư không có ǵ trái cả. Hơn nữa công
năng của kinh, chú Phật giáo thường dùng cũng
như sự linh nghiệm hữu cầu tất ứng của
chư Phật chư Bồ Tát theo đại nguyện của
các Ngài như: Sự cứu chửa bệnh hoạn của
đức Phật Dược Sư, đức A Di Đà được
tôn xưng là Vô Thượng Y Vương, Vô Lượng Thọ,
Vô Lượng Quang, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Địa
Tạng.v.v… với đại nguyện rộng lớn có cầu
đều được đáp ứng, ánh sáng hào quang của
các Ngài không ǵ sánh bằng được. Huống ǵ là ánh sáng
của “sao” chắc chắn là không thể nào hại được
chúng ta khi mà chúng ta đă ở trong vùng ánh sáng của các Ngài
che chở. Hơn nữa trong
lục đạo cũng có một đạo thường
hay quấy nhiễu chúng sanh, đó là các vị A Tu La, nên chư
Phật và Bồ Tát mới hóa thân để cứu chúng
sanh và hộ tŕ Phật Pháp v́ ḷng đại từ, đại
bi của chư Phật. Sau đây tôi xin tŕnh bày tóm tắt về
Nghi Thức Lễ Dược Sư Nhương Tinh Giải
Hạn theo Phật Giáo Việt Nam.
Theo cuốn Nghi Lễ Phật
Giáo của Ḥa Thượng Giải Năng, nghi thức cúng
Sao Hội ( tức cúng chung tất cả mọi người)
như sau:
-
Niêm hương bạch Phật - Đảnh lễ
Tam Bảo – Tán bài Dương Chi.
-
Điểm đăng tức thắp đèn (
cắm theo h́nh Thất tinh như đă nói ở trên, hoặc
đèn Dược Sư)
-
Thỉnh Đế Thích Ngọc Hoàng ( Ngọc
Hoàng Phật Giáo gọi là Thích Đề Hoàn Nhân) mà chúng ta
thường gặp trong kinh..
-
Thỉnh Đẩu Tinh Giáo Chủ tức Ngài
Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật.
-
Tụng chú Đại Bi – Tuyên sớ - Tụng
Nhương Tinh kệ.
-
Đại chúng lạy trùng hiệu trong Sám Dược
Sư (24 lạy)- Tụng chú Tiêu Tai
-
Hồi Hướng - Phục nguyện –
-
Tam Tự Quy - Lễ Tất.
C̣n nghi thức cúng tại tư gia được
chia làm hai loại: Loại thứ nhất hoàn toàn giống
như trên. C̣n loại thứ hai dùng một ít kinh, chú ngữ
của Phật giáo nhưng nghi thức thuộc về tín
ngưỡng nhân gian, chúng tôi xin miễn bàn ở đây.
Hôm
nay chắc chắn có một số vị sẽ không tin là
kinh Phật lại nói về sao, vận mạng v.v… Vậy
Phật tử chúng ta có cách nào để phân biệt được
đúng là Kinh Phật hay không?
Theo lời hướng dẫn của Ḥa Thượng
Thích Thánh Nghiêm trong cuốn Phật Học Quần Nghi như
sau: “… tốt hơn hết nên tra cứu đối chiếu
với mục lục trong Đại Tạng Kinh. nếu có ghi trong mục lục ở
phần NGHI NGỤY , vẫn có thể tin, có thể đọc. C̣n như không có trong Kinh Lục, th́ phải xét xem nó
có trái với nguyên tắc căn bản của Phật Pháp
hay không. Lại nữa, ngoài
những sách dùng giáo nghĩa Phật Pháp để giải
thích Kinh Phật có tên Kinh rơ ràng, và sách thuật lại phát
minh của cổ đức với thái độ thuật nhi bất tác (nghĩa
là chỉ noi theo ư của cổ nhân rồi thuật lại,
mà không sáng tác theo ư riêng ḿnh) như Khổng Tử đă nói. Tóm lại, tốt nhất không nên
xem những Kinh sách c̣n chưa xác định rơ là chân hay ngụy.
BẮC
ĐẨU THẤT TINH PHÙ

(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
1. Phá Quân Tinh, 2.
Vơ Khúc Tinh, 3.
Liêm Trinh Tinh, 4. Văn
Khúc Tinh
5. Cự Môn
Tinh, 6. Tham Lang Tinh
Trúc Viên