CHUẨN BỊ NGÀY VỀ HƯU

CHUẨN BỊ NGÀY VỀ HƯU

(Retirement Planning)

Cao Thi Lễ

Bài này được trích trong Tập San CSV/QGHC Hoài Bảo Quê Hương từ Số 3 đến số 5…..

Trong kỳ Đại Hội Cựu Sinh Viên QGHC Thế Gới vừa qua, anh Chủ Tịch Tổng Hội đã có một nhận xét tuy rất đúng, nhưng đã làm cho đa số chúng ta giật mình, vì không ngờ thời gian qua chóng quá. Anh Lê Hữu Em nói:’Nhìn lại trong chúng ta thì người trẻ nhất cũng đã 50 tuổi rồi. Chóng thật, mới ngày nào rời ghế nhà trường, thế mà hiện nay, nhiều người trong chúng ta đã về hưu, vui thú điền viên, phần còn lại cũng không còn bao nhiêu năm nữa rồi cũng phải rửa tay gác bút.

Do đó, chúng ta cũng nên nghĩ đến việc chuẩn bị cho ngày về hưu (retirement planning) để những ngày còn lại của cuộc đời chúng ta được thoải mái, không phải lo vấn đề cơm áo hằng ngày.

 

I.-Lý Do Cần Chuẩn Bị Cho Ngày Vể Hưu:

Có nhiều người bảo lo gì, khi về hưu sẽ được lãnh tiền hưu trí do sở làm cung cấp, tiền an sinh xã hội (social security), con cháu nuôi dưỡng hay cùng lắm thì lãnh tiền trợ cấp xã hội (supplemental security Income:SSI) Điều này đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Đành rằng trong xã hội này chúng ta có thể nhờ vào các nguồn lợi tức trên để sống trong những ngày xế bóng, nhưng điều quan trọng là sống như thế nào! Sống trong các khu chung cư đông đúc dành cho các bô lão có lợi tức thấp với vài trăm đô la một tháng vừa đủ cho vấn đề cơm áo hay sống một cuộc đời sung túc, thoải mái, du lịch đó đây. Giũa hai nếp sống có một sự cách biệt rất lớn, và sự cách biệt này chỉ được thu ngắn khi chúng ta sáng suốt chuẩn bị cho ngày về hưu ngay từ lúc còn làm việc, và càng sớm càng tốt.

Chúng ta cần chuẩn bị vì những lý do sau đây.

  1. Đời sống trung bình của nhân loại hiện nay cao hơn trong quá khứ. Hiện nay, số người sống đến 80, 90, hoặc 100 tuổi không phải là ít. Nghĩa là chúng ta có thể sống thêm 15, 20 hoặc 25 năm sau khi về hưu. Sống lâu là điều rất tốt, nhưng vấn đề là làm sao có đủ tiền sống thoải mái trong mấy chục năm này.
  2. Tình trạng không lạc quan của Hệ Thống An Sinh Xã Hội. Trong tương lai, quỷ này sẽ bị cạn nếu chính phủ không tìm cách sửa chữa ngay từ bây giờ. Lý do là quỹ này do những người đang làm việc đóng góp để trả cho những người trên 65 tuổi. Với số người đến tuổi về hưu càng ngày càng đông vì hiện tượng ‘ baby boomers’ và con người càng ngày càng thọ làm cho số người hưởng an sinh xã hội càng ngày càng nhiều. Trong tương lai, số thuế an sinh xã hội thu được từ những người đang làm việc sẽ không đủ để đài thọ chi phí càng ngày càng tăng này. Nhiều người bi quan đã lo sợ là đến khi chúng ta về hưu (15 hoặc 20 năm nữa) thì quỹ này sẽ bị phá sản (bankrupted).
  3. Hơn nữa, tiền an sinh xã hội chỉ là một phần nhỏ của lợi tức về hưu, không đủ để chúng ta sống. Hiện nay, số t iền hằng năm tối đa là $14,000 (Tiền an sinh xã hội được tính tùy theo số thuế chúng ta đóáng góp (FICA)và số năm đóng góp). Số tiền $14,000 là áp dụng cho những người đóng góp tối đa với số năm đóng góp lối 30 năm trở lên. Đa số chúng ta đến đất nước này và bắt đầu làm việc quá trễ, do đó, số tiền an sinh xã hội mà chúng ta sẽ lãnh khi về hưu chắc chắn sẽ ít hơn con số này.

  4. Thay đỗi về sự đóng góp và quản trị Quỹ Hưu Bông.

Trong quá khứ, để giữ nhân viên, nhiều công ty lập quỹ hưu bổng cho nhân viên. Công ty đóng tiền vào quỹ hưu bổng cho nhân viên (hoặc toàn phần, hoặc với sự tham gia của nhân viên). Công ty quản trị quỹ này, và khi về hưu, nhân viên được lãnh hưu bổng từ quỹ này.

Khuyết điểm của quỹ hưu bổng này là:

  1. Nhân viên phải có đủ thâm niên tối thiểu để được lãnh hưu bổng (ThíDụ:10 năm) Với sự thay đỗi công việc làm thường xuyên như hiển nay, nhiều nhân viên khi rời công ty sẽ bị mất cả hưu bổng vì chưa đủ tham niên.
  2. Gần đây, rất nhiều công ty sáp nhập với công ty khác (merging) hoặc giảm tầm hoạt động (downsizing) Trong các trường hợp này, một số nhân viên bị sa thải và bị mất luôn hưu bổng.
  3. Quỹ hưu bổng do công ty quản trị. Nếu quản trị viên không giỏi thì sẽ ảnh hưỡng đến số tiền hưu bổng của nhân viên về sau. Do đó, trong thời gian gần đây, nhiều công ty đã thay the áquỹ hưu bổng của công ty bằng 401(k) plan. Nhân viên tự quyết định về số tiền đóng góp vào quỹ này(không quá mức tối đa do luật định) và quyết dịnh về việc quản trị quỷ (sẽ bàn thêm chi tiết về quỹ này trong các phần sau)

 

II.-Hoạch Định Hưu Trí (Retirement Planning):

Người Mỹ thường bắt đầu chuẩn bị cho ngày về hưu rất sớm. Thường họ bắt đầu chú trọng đến việc để dành cho ngày về hưu khi họ bắt đầu bước vào lứa tuổi bốn mươi. Riêng chúng ta đa số đến đất nước này trong giai đoạn quá trễ của cuộc đời. Ngoài ra, chúng ta còn phải bỏ rất nhiều năm để hội nhập vào xã hội mới. Mặt khác, nhiều người có thể cho việc tiết kiệm để gầy dựng quỹ hưu bổng(nest egg) là không cần thiết. Do đó, có một số người khi mái tóc đã điểm sương rồi mà vẫn chưa nghĩ đến việc chuẩn bị cho ngày vè hưu. Tuy nhiên, không có nghĩa là chúng ta không còn làm được gì vì đã quá trễ. Mặc dù chúng ta phải lo việc này càng sớm càng tốt., nhưng tuy trễ vẫn còn hơn không.

Theo nguyên tắc, hoạch định hưu trí gồm có các giai đoạn sau đây:

  1. Ước lượng số tiền cần có lúc về hưu (nest egg), tức là đặt mục tiêu tiết kiệm (retirement saving goal).
  2. Ước lượng số tiền cần để dành hằng năm (annual savings) để đạt được mục tiêu tiết kiệm.
  3. Tìm phương pháp để giảm thiêu số tiền cần để dành hằng năm mà vẫn đạt được mục tiêu.

  1. Ước Lượng Số Tiền Cần Tiết Kiệm-Mục Tiêu Tiết Kiệm (nest egg).

Mục tiêu tiết kiệm tùy thuộc nhiều yếu tố:

  1. Quan niệm về nếp sống sau khi về hưu.
  2. Ước lượng về thời gian sống sau khi về hưu.
  3. Ước lượng về lợi tức trên số vốn có được khi về hưu (Earnings on nest egg).

1. Quan Niệm Về Nếp Sống Khi Về Hưu:

Cuộc đời chúng ta có thể chia ra làm 3 giai đoạn: thuở nhỏ, chúng ta tập trung công sức và thơì giờ vào việc học hành để tạo cho mình một số vốn kiến thức để mưu sinh (Learning). Sau khi rời ghế nhà trường, chúng ta lại lao đầu vào công việc làm ăn để đem lại cơm no áo ấm cho chính mình và gia đình(Working). Khi về hưu, chúng ta nghỉ ngơi, vui thú điền viên hay du lịch đó đây (Playing)

Thời gian về hưu là thời gian thật sự của chúng ta. Do đó, chúng ta nên tận hưởng những năm còn lại của cuộc đời. Chúng ta có thể:

*Học hỏi thêm để mở rộng kiến thức:

Lúc còn đi làm, chúng ta không có thì giờ học hỏi những gì chúng ta thích. Khi về hưu, không còn bận với sinh kế, không còn phải lo cho con cái, chúng ta có thể trở lại trường để học thêm. Chúng ta có thể ghi danh vào các trường đại học để học thêm sinh ngữ, hội họa,computer sciences, business…Chúng ta có thể theo học các trường chuyên nghiệp như sửa xe, cắm hoa, nấu ăn.

Điều lý thú là chúng ta học những gì chúng ta thích, không phải bắt buộc học những gì cần cho việc mưu sinh sau này.

Chúng ta có thể làm việc bán thời gian để vừa có chút lợi tức vừa đỡ buồn chán vì tối ngày chỉ quanh quẩn ở nhà. Ngoài ra, chúng ta có thể làm việc thiện nguyện để giúp đỡ người khác.

Tùy sở thích và tùy khả năng tài chánh, chúng ta có thể du lịch đó đây, ở khách sạn sang trọng, dự những cruises đắt tiền. Chúng ta có thể tiết kiệm bằng cách lái xe thăm viếng các thắng cảnh trong nước hay các quốc gia lân cận. Chúng ta có thể theo gót ông cha, vui thú điền viên, chăm sóc vườn tược cây cảnh.

Tùy theo sự chọn lựa nếp sống, chúng ta có thể ước lượng chi phí cần thiết lúc về hưu, và từ đó hoạch định số tiền cần có lúc về hưu (nest egg) và số tiền cần tiết kiệm hằng năm.

2. Ước Lượng Về Thời Gian Về Hưu.

Thế hệ ông cha chúng ta thường có câu "Quan tha ma bắt’ để diễn tả cuộc sống ngắn ngủi. Vào thời ấy, đời sống trung bình của người Việt chúng ta chỉ vào khoản 60 tuổi. Do dó thường các cụ về hưu được vài năm thì lại đền ngày về với ông bà.

Hiện nay, và đặc biệt là ở xã hội Aâu Mỹ sung túc, đầy đủ dinh dưởng và thuốc men, đời sống trung bình của con người hiện nay vào khoản 85 tuổi, nghĩa là chúng ta có hy vọng sống thêm 20 năm sau khi về hưu. Vì thế, chúng ta phải hoạch định thế nào cho có đủ tiền để sống thoải mái trong thời gian này.

3.Ước Lượng Về Lợi Tức Trên Số Tiền Có Lúc Về Hưu (earnings on nest egg)

Việc này tùy thuộc vào việc chúng ta quản trị nest egg như thế nào sau khi về hưu:

Sau khi có một quan niệm rõ rệt về nếp sống sau khi về hưu, ước lượng về tuổi thọ, và ước lượng về lợi tức của nest egg sau khi về hưu, chúng ta có thể phỏng định mục tiêu tiết kiệm bằng cách.

a.. Ước lượng chi phí hằng năm sau khi về hưu.

b. Ước lượng số tiền cần có khi về hưu(nest egg) và số tiền cần tiết kiệm mỗi năm (annual savings).

(1)Ước lượng chi phí hằng năm sau khi về hưu:

Một số chuyên viên thường khuyên nên dùng phương pháp giản dị là căn cứ vào 60% đến 80% của lương năm sau cùng. Lý do là khi về hưu một số chi phí sẽ được giảm đi như xăng nhớt, quần áo, ăn ngoài…

Phương pháp này quá giản dị vì không tính đến việc khi về hưu chúng ta có thể du lịch nhiều nơi, hoặc trở lạïøi nhà trường để học hỏi thêm.

Cách tính sau đây, tuy cũng giản dị nhưng thực tế hơn:

-Ước lượng chi phí hằng năm hiện tại trừ những chi phí sẽ không còn nữa khi về hưu(tiền đống vào quỹ hưu bổng, mortgage nhà, FICA…)

-Nhân số sai biệt cho:

75% nếu dự trù một nếp sống thanh đạm và thời gian từ nay cho đền ngày về hưu ít hơn 20 năm.

100% nếu muốn tiếp tục nếp sống hiện tại và thời gian từ nay đến ngày về hưu bằng hay trên 20 năm.

125% nếu dự trù một nếp sống thật thoải mái, du lịch đó đây.

Sau đây là thí dụ:

Lương hiện nay:
Trừ Morgage:
FICA:
Tiền học của con:
+$50,000
-$12,000
-$3,500
-$4,500
Sai biệt:
--------
-$20,000
+$30,000

Nếu chúng ta dự định không thay đỗi nếp sống thì số chi phi cần thiết khi về hưu là: $30,000 x 100% = $30,000.

(2)Ước lượng số tiền cần có khi về hưu(nest egg) và số tiền cần tiết kiệm hằng năm(annual savings).

Trong giai đoạn này, chúng ta phải ước tính lợi tức trên nest egg sau khi về hưu. Nếu chúng ta bảo thủ và chọn lãnh annuities thì có thể chọn 6%. Nếu chúng ta thích đầu tư vào cổ phần (stocks) hay trái phiếu(bonds) thì có thể chọn 10%.

Nếu chúng ta lạc quan cho rằng sẽ không có gì xãy ra cho Hệ Thống An Sinh Xã Hội (Social Securiity System) khi chúng ta về hưu và chúng ta sẽ lãnh được $10,000 mỗi năm thì số tiền cần tiết kiệm hằng năm là:

Số chi phí hang năm:
SS lãnh hằng năm:
$30,000
$10,000
Số tiền cần có hằng năm:
-------
$20,000

Sau đó, chúng ta có thể ước lượng mục tiêu tiết kiệm (nest egg):

Nếu sau khi về hưu, chúng ta chọn giải pháp lãnh annuities, mục tiêu tiết kiệm là $20,000/.06=$330,000. Nếu chúng ta dự định tiếp tục giữ trong trương mục đầu tư với lợi tức 10% và chỉ rút lợi tức ra xài thì mục tiêu tiết kiệm là $20,000/.10=$200,000.

  1. Ước Lượng Số Tiền Cần Để Dành Hằng Năm(Annual Savings) Để Đạt Mục Tiêu Tiết Kiệm:
  2. Việc ước lượng số tiền cần để dành hằng namê tùy thuộc vào lãi suất trên số tiền đóng góp vào quỹ hưu bổng từ nay cho đến ngày về hưu.

    Thí dụ 1:

    Mục tiêu tiết kiệm(nest egg): $200,000

    Lợi tức trên số tiền đóng góp vào nest egg từ giờ cho đến ngày về hưu

     

    Số năm
    Làm việc
    Annuity(*)
    Của $1
    Tiết kiệm
    Hằng năm
    ($)
    Tiết kiệm
    Hằng tháng
    ($)
    Nest Egg
    ($)
    Phần đóng
    Góp
    ($)
    Lợi tức
    (Earnings)
    ($)
    Lãi Suất 6% - Tuổi Về Hưu 65 tuổi
    15
    22.276
    8,593
    716

    200,000

    128,895

    71,105

    10

    13.181

    15,173

    1,264

    200,000

    151,730

    48,270

    5

    5.637

    35,480

    2,957

    200,000

    177,400

    22,600

    Lãi Suất 10% - Tuổi Về Hưu 65 tuổi

    15

    31.722

    6,305

    525

    200,000

    94,575

    10,542

    10

    15.937

    12,459

    1,046

    200,000

    125,490

    74,510

    5

    6.105

    32,760

    2,730

    200,000

    163,800

    36,200

    (*)Compound amount of Annuity of $1 in arrears (Future Value of annuity Table)

     

     

    Thí Dụ 2:

    Nest egg là $330,000

    Lãi suất trên số tiền đóng góp vào nest egg từ giờ đến ngày về hưu

    Số năm

    Làm việc

    Annuity (*)

    Của $1

    Tiết Kiệm

    Hằng Năm

    ($)

    Tiết Kiệm

    Hằng Tháng

    ($)

    Nest Egg

    ($)

    Phần

    Đóng Góp

    ($)

    Lợi Tức

    (Earnings)

    ($)

    Lãi Suất 6% - Tuổi Về Hưu 65 Tuổi

    15

    23.276

    14,178

    1,182

    330,000

    212,670

    117,330

    10

    13.181

    25,036

    2,086

    330,000

    250,360

    76,460

    5

    5.637

    58,542

    4,878

    330,000

    292,710

    37,290

    Lãi Suất 10% - Tuổi Về Hưu 65 Tuổi

    15

    31.722

    10,403

    867

    330,000

    156,045

    173,955

    10

    15.937

    20,707

    1,728

    330,000

    207,070

    122,930

    5

    6.105

    54,054

    4,504

    330,000

    270,270

    59,730

     

    (*)Compound amount of annuity of $1 in arrears (Future Value of Annuity Table)

    Nhìn các con số trên, chúng ta thấy rằng chúng ta phải bắt đầu tiết kiệm càng sớm càng tốt và chúng ta phải lựa chọn phương pháp đầu tư cho số tiền tiết kiệm với lãi suất càng cao càng tốt. Nếu chúng ta bắt đầu tiết kiệm vào tuổi 50 và đầu tư vào stocks và bonds với lãi suất trung bình là 10% thì để có $20,000 mỗi năm sau khi về hưu, chúng ta chỉ cần để dành mỗi tháng là $525. Còn nếu chúng ta chờ đến 55 tuổi hoặc 60 tuổi, chúng ta phải đóng góp vào quỹ tiết kiệm $1,046 hay $2,730 /tháng. Diều này có thể là vượt khả năng tài chánh để dóng góp hằng tháng như trên, chúng ta cũng không nên nãn lòng, cứ đóng góp theo khả năng của mình để khi về hưu có thêm một số vốn phụ vào số tiền an sinh xã hội quá khiêm tốn.z

    Thí dụ dưới đây đặt giả thuyết chúng ta có thể tiết kiệm mỗi tháng $500, mỗi năm $6,000. Điều này không quá khả năng của đa số chúng ta vì nếu chúng ta đóng góp vào các quỹ được hoãn thuế như 401(K) plan thì thực sự chúng ta chỉ đóng vào có $335 nếu chúng ta phải đóng thuế lợi tức liên bang 28% và tiểu bang 5%($500 – [$500 x 33%].

    Thí dụ 3:

    Số tiền tiết kiệm hằng năm $6,000

    Lãi suất trên số tiền tiết kiệm

    Từ giờ cho đến ngày về hưu:6%

    Thuế suất liên bang và tiểu bang : 28% + 5%=33%

    Số Năm Trước

    Khi về hưu

    Annuity(*)

    Tiết Kiệm

    Hằng Năm

    ($)

    Nest Egg Khi

    Về Hưu

    ($)

    Phần Đóng Góp

    Trước Tax

    ($)

    Phần Đóng Góp

    Sau Tax

    ($)

    Lợi Tức

    (Earnings)

    ($)

    5

    5.637

    6,000

    33,822

    30,000

    20,100

    3,822

    10

    13.181

    6,000

    79,086

    60,000

    40,200

    19,086

    15

    23.27

    6,000

    139,620

    90,000

    60,300

    49,620

    20

    36.786

    6,000

    220,716

    120,000

    80,400

    100,716

    25

    54.865

    6,000

    329,190

    150,000

    100,500

    179,190

    30

    79.058

    6,000

    474,348

    180,000

    120,600

    294,394

    (*) Compound amount of annuity of $1 in arrears (Future Value of Annuity Table)

    Thí dụ 4:

    Số tiền tiết kiệm hằng năm $6,000

    Lãi suất trên số tiền tiết kiệm tư giờ cho đến ngày về hưu là 10%

    Thuế suất liên bang và tiểu bang : 28% + 5% = 33%

    Số Năm

    Trước Khi

    Về Hưu

    Annuity(*)

    Tiết Kiệm

    Hằng Năm

    ($)

    Nest Egg

    Khi Về Hưu

    ($)

    Phần

    Đóng Góp

    Trước Tax

    ($)

    Phần Đóng

    Góp

    Sau Tax

    ($)

    Lợi Tức

    (Earnings)

    ($)

    5

    6.105

    6,000

    36,630

    30,000

    20,100

    6,630

    10

    15.937

    6,000

    95,622

    60,000

    40,200

    35,622

    15

    31.772

    6,000

    190,632

    90,000

    60,300

    100,632

     

    52.275

    6,000

    343,650

    120,000

    80,400

    223,650

    25

    98.347

    6,000

    590,082

    150,000

    100,500

    440,082

    30

    164.494

    6,000

    986,964

    180,000

    120,600

    806,964

     

    (*)Compound Amount of Annuity of $1 in arrears (Future Value of Annuity Table)

    Nhìn vào các con số ở trên chúng ta thấy ưu điểm của lãi suất kép(compound interest).

    Đối với chúng ta thì hơi trễ nhưng chúng ta có thể căn cứ vào các thí dụ này để khuyến khích con cháu của chúng ta nên khởi sự tiết kiệm càng sớm càng tốt. Nếu thế hệ tẻ bắt đầu để dành vào năm 35 tuổi và để dành $500 mỗi tháng thì khi về hưu sẽ có một nest egg gần $1,000,000 (một triệu).

  3. Tìm Phương Thức Để Giảm Thiểu Số Tiền Tiết Kiệm Hằng Năm

Mà Vẫn Đạt Được Mục Tiêu Tiết Kiệm (Nest Egg)

Mục tiêu của hoạch định hưu trí là tối đa hóa số tiền có được lúc về hưu (maximizing nest egg) với sự đóng góp tối thiể (minimum contribution). Sau khi ước lượng mục tiêu tiết kiệm và số tiền cần để dành hằng năm, chúng ta cần tìm các phương tiết kiệm để giảm thiểu số tiền cần để dành hằng năm.

Theo thí dụ 2 ở trên, nếu muốn có một nest egg 330,000, chúng ta cần để dành $14,178 mỗi năm, hay là $1,182 mỗi tháng. Tuy nhiên, nếu chúng ta sáng suốt lựa chọn phương thức tiết kiệm tốt thì số tiền cần để dành hằng năm có thể giảm bớt nhiều mà chúng ta vẫn đạt được mục tiêu $330,000 khi về hưu. Muốn như thế, chúng ta phải tìm cách được giảm thuế trên số tiền tiết kiệm và trên lợi tức của số tiền tiết kiệm này.

  1. Giảm thiểu số tiền đóng góp hằng năm(minimizing annual contributions).

Chúng ta có thể đạt mục tiêu này bằng cách lựa chọn các phương thức đầu tư giúp chúng ta được hoãn hay miễn thuế tối đa. Hiện nay có các phương thức tiết kiệm hưu trí sau đây:

-Quỹ hưu bổng của công ty.

-Quỹ hưu bổng của nhân viên (401(k)plan).

-Các quỹ khác (Keigh plan, IRA, Roth IRA)

  1. Quỹ hưu bổng của công ty:

Trong quá khứ, các công ty chịu tách nhiệm về sự đóng góp vào quỹ hưu bổng do công ty quản trị. Đây là mật phần của biệt lợi benefits) do công ty cung cấp cho nhân viên, và đây cũng là một phương thức cầm chân nhân viên cho đến ngày về hưu. Trong trường hộp này, nhân viên có thể không phải đóng góp gì cả hay chỉ đóng góp một phần, do đó gánh nặng tiết kiệm sẽ được giảm đi. Nhưng có những điểm bất lợi sau đây:

-Nhân viên không quyết định được số tiền đóng góp vào quỹ hưu bổng vì công ty có thể thay đỗi phần đóng góp dễ dàng và có thể bỏ luôn quỹ nầy.

Chúng ta nên tận dụng cơ hội đóng góp vào loại quỹ hưu bổng này. Nếu công ty đóng góp 100% hoặc 50% thì gánh nặng tiết kiệm của chúng ta cũng được giảm bớt đi khá nhiều.

b.Quỹ hưu bổng do nhân viên đóng góp và quản trị (Salary-Reduction Plan)

Đây là 401(k)plan. Gần đây, nhiều công ty đã chuyển trách nhiệm tiết kiệm hưu trí (retirement savings) cho nhân viên. Nhân viên đóng góp vào trương mục của mình ,nhưng công ty cũng có thể đóng góp một phần(match).

Lợi điểm của 401(k)plan gồm:

-Số tiền đóng góp(contributions) được hoãn thuế lợi tức (income tax deductible. Thí du mỗi năm chúng ta đóng $6,000 vào quỹ và thuế liên bang và tiểu bang là 33%(28%+5%) thì chúng ta sẽ được hoãn $1,980 tiền thuế.

-Lợi tức (earnings) của trương mục này được hoãn thuế.

Nếu $6,000 sinh lợi được$600 mỗi nạm(10%) thì số thuế được hoãn là $198 ($6,000 X 10% x33%).

-Công ty có thể đóng góp phụ thêm(marching). Thí dụ công ty đóng $0.50 cho $1.00 do nhân viên đóng với giới hạn là 6% của lương. Nếu lương nhân viên là $60,000 và nhân viên đóng vào $6,000 thì công ty sẽ cộng thêm $1,800 ($60,000 x 0.50 x 0.06).

Như thế, số tiền đóng vào quỹ mỗi nămlà $7,800.

-Nhân viên có thể trực tiếp tham gia vào việc quản lý cho các trương mục của mình. Thường công ty giao việc quản lý cho cho các quản trị gia đầu tư chuyên nghiệp và nhân viên có quyền lựa chọn phương thức đầu tư:lãi suất cố định(fixed interest), trái phiếu (bonds), cổ phần (stocks), mutual funds…

-Việc để dành được dễ dàng hơn. Mỗi tháng số tiền tiết kiệm đượ c trừ thẳng trong lương và nhân viên không còn bị cám dỗ tìm cách trì hoãn tiết kiệm nữa.

-Khi nhân viên đỗi việc làm thì có thể lãnh phần đóng và lợi tức ra hoặc tiếp tục giữ lại trong quỹ.

Khuyết điểm của 401(k)plan là:

-Sẽ bị phạt 10% nếu lãnh ra trước 59 tuổi rưỡi.

 

c. Quỹ Hưu Bổng Dành Cho Các Kinh Doanh Nhỏ (Small Business)và những người tư dụng (self employed)

Các quỹ này gồm có SIMPLE (Savings Incentive Match Plan for Employees), SEP-IRA(simplified Employee Pension-Individual Retirement Account), Profit Sharing Plans, Money Purchase Plans, Target Benefits Plans.

Mỗi loại hưu bổng đều có ưu và khuyềt điểm nhưng tất cả đều có 4 đặc điểm sau đây:

-Số tiền đóng góp được hoãn thuế lợi tức(Income Tax Deductible)

-Lợi tức trên các quỹ này được hoàn thuế lợi tức.

-Các khoản tiền rút ra phải chịu thuế lợi tức theo thuế suất lúc lãnh ra.

-Sẽ bị phạt nếu rút tiền ra trước hạn định.

  1. Các phương thức tiết kiệm khác:

*Individual Retirement Account (IRA)

Ai cũng có thể đóng góp tối đa mỗi năm $2,000 (độc thân) hay $4,000 (nếu có người phối ngẫu)vào IRA. Tuy nhiên với sự ban hành của Tax Refom Act 1986, có thể chia ra làm hai loại:

Loại 1: Các đóng góp được hoãn thuế (tax deductible). Muốn được hoãn thuế trên số tiền đóng góp vào trương mục này, cá nhân và người phối ngẫu phải không tham gia vào các quỹ hưu bổng hoặc tuy có tham gia vào các quỹ nhưng có số lợi tức điều chỉnh(adjusted gross income) năm 1998 bằng hoặc dưới $50,000 (độc thân) hay $60,000 (nếu có người phối ngẫu). Giới hạn này thay đỗi mỗi năm

Loại 2: Các đóng góp không được hoạn thuế:

Loại này áp dụng cho những người không đủ điều kiện để hưởng được quy chế của loại trên.

Ưu điểm của IRA là, dù thuộc loaoọi được hoãn thuế hay loại không được hoãn thuế(tax deferred earnings). Ngoài ra, chúng ta có thể quản lý số tiền này theo ý muốn để sinh lợi tối đa.

Thí dụ 5:

Mỗi năm đóng $4,000 vào IRA trong 15 năm:

Thuế lợi tức hoãn trên số tiền đóng góp: $4,000 x.33 x 15 = $19,800

Số tiền trong quỹ sau 15 năm: $4,000 x 31.722 = $127,088.

Số tiền đóng vào trong 15 năm : $4,000 x 15 = $60,000

Số lợi tức của trương mục sau 15 năm : $67,088.

Thuế lợi tức được hoãn trên lợi tức của trương mục: #67,o88 x 33% = $22,140

Nếu thuộc loại 1, tổng số tiền thuế được hoãn là $41, 940. Nếu thuộc loại 2 thì ít ra cũng được hoãn $22,140 tiền thuế.

*Roth IRA

Kể từ 1998, cá nhân và người phối ngẫu, nều có lợi tức, được quyền đóng vào Roth IRA $2,000 mỗi năm cho mỗi người.

Điểm khác biệt giữa IRA và Roth IRA là số tiền đóng vào IRA, nếu đủ điều kiện, sẽ được hoãn thuế trong lúc số đóng vào Roth IRA không được hoãn thuế. Ngoài ra, lợi tức trên số tiền trong IRA chỉ được hoãn thuế cho đến ngày lãnh ra trong lúc lợi tức trên số tiền trong Roth IRA được miễn thuế hẳn, khi rút tiền ra không phải nộp thuế gì cả. Sau hết, số tiền trong IRA phải được bắt đầu rút ra khi ngừơi chủ trương mục được 70 tuổi rưỡi nhưng tiền trong Roth IRA không bị chi phối bởi điều kiện này. Nếu mỗi năm gởi vào Roth IRA $4,000 thì sau 15 năm, nest egg sẽ lên đến $127,088 và khi lãnh ra không phải đóng thuế lợi tức, như thế được miển hẳn $22,140 tiền thuế.

Tóm lại, chúng ta phải đóng góp tôi đa vào quỹ hưu bổng của công ty hay 401(k) plan. Sau đó, nếu còn có khả năng, đóng góp thêm vào IRA hay Roth IRA. Nếu chúng ta còn dư dả, thì có thể đầu tư vào cổ phần, trái phiếu hay mutual funds. Các phương thức đầu tư này sẽ được thảo luận trong phần sau, khi bàn về phương thức tối đa hóa số tiền tiết kiệm (maximizing nest egg). Thí dụ sau đây kết thúc phần I này:

Thí dụ 6.

Mỗi năm đóng vào 401(k)plan $6,000 và lãi suất trên tiền tiết kiệm là 10% như trong thí du 4;

Tiết kiệm hằng năm la $6,000

Hoạn thuế trên $6,000 là $6,000 x 33% =$1980

Dùng số tiền được hoãn thuế và thêm $20 mua Roth IRA tổng số là $2,000

Sau 15 năm, số tiền trong 401(k) plan là $190,632.

Số tiền trong Roth IRA la ` $63,544

Nest Egg bằng $254,176

 

Ghi Chú: Bài này căn cứ một phần vào tài liệu trong quyển Retire Rich – The Baby Boomer’s Guide to Secure Future by Bambi Holzer. John Wiley & Sons, Inc. New York, 1998.