Trong Hoài Bảo Quê Hương số 3 , chúng tôi đã trình bày Phần I của bài Chuẩn Bị Cho Ngày Về Hưu. Qua phần này, hy vọng quí anh chi đã nhận thức được sự cần thiết của việc tiết kiệm cho ngày về hưu và các phương thức giảm thiểu số tiền đóng góp hằng năm mà vẫn đạt được mục tiêu tiết kiệm.
Phần II và Phần III sẽ bàn về việc làm sao cho số tiền tiết kiệm đựơc tăng trửơng tối đa để khi về hưu chúng ta có một số tiền khá lớn để sống một cách thoải mái. Quỹ tiết kiệm (nest egg) này gồm có hai phần:phần đóng góp (contributions) và phần lợi tức đầu tư (investment earnings) Phần đóng góp đã được trình bày trong Phần I, phần lợi tức đầu tư sẽ được trình bày trong Phần II. Phần đóng góp tùy thuộc khả năng tài chánh của chúng ta, còn phần lợi tức đầu tư tùy thuộc vào sự sáng suốt của chúng ta trong việc quản lý quỹ tiết kiệm.
Nếu chúng ta có $10,000 và chúng ta chỉ giữ số tiền này trong tủ sắt hoặc bỏ vào hủ để chôn thì số bạc này sẽ không sinh lợi. Nếu chúng ta muốn số tiền này càng ngày càng gia tăng thì chúng ta phải tìm cách đầu tư. Có nhiều phương thức đầu tư, và lợi tức do mỗi phương thức đem lại khác nhau.
Khi chúng ta tham gia vào các quỹ tiết kiệm như 401k hay Tax-shelter khác, cơ quan quản lý các quỹ này thường cho chúng ta quyền lựa chọn một số phương thức đầu tư như cổ phần (stocks), trái phiếu (bonds) hay các chứng phiếu tương đương với bạc mặt (cash equivalents). Theo tài liệu mới nhất của TIAA (Tearchers Insurance anh Annuity Association), lợi tức trung bình trong 5 năm vừa qua của các quỹ do TIAA quản lý như sau: Stocks 20.33%, Bonds 7.47% và Money Market 5.36%(*) TIAA khá bảo thủ trong việc đầu tư. Lợi tức đầu tư của các cơ quan tài chánh khác có thể cao hơn. Nếu chúng ta sáng suốt trong sự lựa chọn phương thức đầu tư, chúng ta sẽ có một số vốn tối đa khi về hưu.
Trong các thí dụ 3 và 4 của Phần I, với số tiền tiết kiệm là $6,000 mỗi năm, nếu chúng ta còn 15 năm nữa trước khi về hưu và nếu lợi tức hằng năm là 6% thì khi về hưu chúng ta có một số vốn là $139,620. Còn nếu lợi tức là 10% thì số tiền tiết kiệm sẽ lên đến $190,632. Số sai biệt $51,012 là do sự sáng suốt của chúng ta trong việc lựa chọn phương thức đầu tư. Sự sai biệt này càng lớn khi thời gian đầu tư càng dài. Thí dụ thời hạn đầu tư là 25 năm, số sai biệt sẽ lên đế $260,892. Các thí dụ này cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn phương thức đầu tư.
Nhưng trước khi bàn về các phương thức đầu tư, chúng tôi xin trình bày về sự rủi ro của đầu tư và lợi tức của đầu tư.
Khi đầư tư, chúng ta có thể mất tất cả hay một phần số tiền vốn để vào. Đó là sự rủi ro mà ta phải chấp nhận vì không có một phương thức đầu tư nào mà không có rủi ro. Khi chúng ta mua cổ phần của một công ty nhỏ mới thành lập (start-up company) chúng ta có thể mất tất cả vốn vì nếu công ty này bị phá sản trong một thời gian ngắn thì các chứng chỉ cổ phần chỉ còn là những mãnh giấy lộn. Nhưng nếu chúng ta mua cổ phần của các công ty hoạt động lâu đời như IBM, GE, AT&T và nếu chúng ta xui xẻo mua bán không đúng lúc, chúng ta có thể chỉ mất một phần số vốn mà thôi.
Rủi ro đầu tư tùy thuộc hai yếu tố: phương thức đầu tư (types of investment) và thời gian đầu tư (invetment time). Thông thường, lợi tức đầu tư (investment earnings) và mức độ rủi ro (degree of risk) đi đôi với nhau. Đối với đầu tư vào Money Market Accounts hay certificate deposits, mức độ rủi ro rất thâp nhưng lãi suất cũng rất thấp. Ngược lại, đầu tư vào cổ phần lợi tức rất cao và mức độ rủi ro cũng rất cao.
Rủi ro đầu tư giống như rủi ro trong đời sống. Khi chúng ta đi xe, máy bay, tàu thủy, chúng ta đều phải chấp nhận sự rủi ro của các tai nạn lưu thông. Chúng ta có thể tránh các rủi ro này bằng cách tránh không ra khỏi nhà. Nhưng như thế thì đời sống còn ý nghĩa gì nữa! Đầu tư cũng thế, nếu chúng ta sợ rủi ro chỉ gưi tiền tiết kiệm vào ngân hàng với tiền lãi 2% hoặc 3% mỗi năm thì chúng ta sẽ mất nhiều cơ hội để kiếm thêm lợi tức cho nest egg của chúng ta. Đầu tư vào cổ phần có mức độ rủi ro cao, nhưng không vì thế chúng ta loại bỏ phương thức đầu tư này. Điều quan trọng là chúng ta phải chấp nhận rủi ro đầu tư và phải sàng suốt quyế định mức rủi ro của đầu tư mà chúng ta có thể chấp nhận được. Muốn như thế, chúng ta phải tìm hiểu các hình thức rủi ro đầu tư và mức độ trầm trọng của rủi ro đầu tư.
Đây là rủi ro bị thua lỗ khi bán cổ phần hay trái phiếu dưới giá mua. Giá cả của cổ phần hay trái phiếu thay đỗi từng giờ từng phút trên thị trường chứng khoán vì giá cả theo luật cung cầu. Khi có nhiều người bán ra nhưng íit người mua vào thì giá hạ xuống, và ngược lại khi ít người bán nhưng nhiều người mua, giá sẽ tăng. Đối với quỹ tiết kiệm để về hưu, rủi ro này không quan trọng lắm vì mặc dù trong ngắn hạn giá cả lên xuống không chừng nhưng trong dài hạn, giá cả cũa các chứng khoán có khuynh hướng gia tăng. Chỉ khi nào sấp đến ngày về hưu và cần rút tiền ra, chúng ta mới bắt đầu lo đến loại rủi ro này.
Đây là rủi ro khi chúng ta mua cổ phần hay trái phiếu của các công ty sấp bị phá sản.
Chúng ta không phải lo về rủi ro này nếu chùng ta tham gia vào các quỹ 401(k) hay tax-shelter khác. Các quỷ này thường do các quản trị gia chuyên nghiệp quản lý và họ rất thận trong trong việc lựa chọn các công ty để đầu tư.
Đây là rủi ro khi chúng ta cần tiền mặt mà chúng ta không thể rút số tiền đầu tư ra để sử dụng. Đối với quỹ tiết kiệm về hưu , rủi ro này là việc phải chấp nhận vì khi tham gia vào quỹ này, chúng ta được thông báo trước là nếu rút tiền ra trước 59 tuổi rưỡi thì sẽ bị phạt. Đìu cần làm là ngoài quỹ tiết kiệm về hưu, chúng ta cần có một số tiền gửi trong trương mục tiết kiệm của ngân hàng để sử dụng khi cần đến. Đầu tư vào nhà đất thuộc loại rủi ro này vì việc bán nhà đất cần một thời gian khá lâu. Mua Certificate Deposit cũng có một phần rủi ro loại này. Các trái phiếu của chính phủ (U.S. Treasury Bonds) không có rủi ro này vì có thể đem lãnh tiền ra (cash in) lúc nào cũng được.
Rủi ro nay liên hệ đến sự thay đỗi của lãi suất. Quyết định đầu tư thường tùy theo sự suy đoán về chiều hướng của lãi suất trong tương lai. Nếu chúng ta dự đoán lãi suất sẽ tăng trong tương lai, chúng ta có thể đầu tư vào adjustable rate money market funds vì nếu tiền lãi tăng thì tiền lãi của các quỹ này cũng tăng theo. Nếu chúng ta dự đoán tiền lãi sẽ giảm trong tương lai, chúng ta có thể đầu tư vào fixed-interest money market funds. Khi mua certificate dseposit chúng ta cũng phải cân nhắc tương tự.
Đây là loại rủi ro mà ít người để ý đến. Trong dài hạn lạm phát làm giá hàng hóa và dịch vụ tăng và tiền sẽ mất giá. Dưới đây là một vài thí du. Về tầm quan trọng của lạm phát:
|
1966 |
1996 |
2026 4%inflation rate |
|
|
Cup of coffee |
$ 0.10 |
$ 0.75 |
$ 2.43 |
|
Luxury car |
$ 3,000.00 |
$ 40,000.00 |
$ 130.000.00 |
|
Quart of milk |
$ 0.27 |
$ 0.80 |
$ 2.60 |
|
Gallon of gas |
$ 0.30 |
$ 1.39 |
$ 4.51 |
Source:Bambi Holzer, Retire Rich-The Baby Boomer’s Guide to a Secure Future, John Wiley & Sons Inc., New York, 1998.
Khi đầu tư, chúng ta phải lưu ý loại rủi ro này. Nếu chúng ta đầu tư vào money market accounts với lãi suất là 4% trong khi inflation rate là 5%, chúng ta thực sự đã bị thua lỗ.
2.Quyết Định Về Mức Độ Rủi Ro Đầu Tư Có Thể Chấp Nhận (Acceptable Degree of Risk):
Quyết định về mức độ rủi ro có thể chấp nhận được tùy theo thời gian đầu tư và tùy theo cá tánh của chúng ta. Về mức độ rủi ro(degree of risk), trong thời gian ngắn rủi ro về lạm phát rất thấp vì giá cả thường không thay đỗi nhiều trong một hay hai năm. Nhưng trong dài hạn thì loại rủi ro này rất là quan trọng vì tiền sẽ từ từ mất giá. Khi tiết tiệm để về hưu chúng ta phải nghĩ đến dài hạn. Chúng ta không phải chỉ nghĩ đến khoản thời gian từ giờ đến ngày về hưu(5, 10, 15 năm) mà còn phải nghĩ đến làm thế nào có đủ tiền để sanh sống cho đến ngày từ giả cõi đời, nghĩa là 20 hay 30 năm sau khi về hưu. Trong thời gian dài 30 hoặc 40 năm như thế chúng ta phải chú trọng đế`n rủi ro về sự sụt giảm của mãi lưc. Vì thế, không những chúng ta phải tìm các h cho quỹ tiết kiệm(nest egg) của chúng ta tăng trưởng từ nay đến ngày về hưu mà còn phải tìm cách cho số tiền trong quỹ này tiếp tục tăng trưởng sau ngày về hưu. Có thể có người trong chúng ta bảo rằng:Lo gì, theo tính toán của tôi khi về hưu (15 năm sau) tôi sẽ có được khoản$2,000 mỗi tháng(hưu bổng—social security—và an sinh xã hôi—pension), như thế quá đủ cho tôi để an hưởng tuổi già. Chúng ta đừng quên là sau 15 năm, với inflaton rate 4%, mãi lực của $2,000 chỉ còn bằng $1,110 mà thôi, và sau 25 năm, số tiền này chỉ còn là $750. Nếu mức lạm phát cao hơn, sự mất giá của số tiền này càng nhiêu hơn nữa.(Hiện nay, phần an sinh xã hội được điều chỉnh theo mức lạm phát, nhưng phần hưu bổng thì không.)
Mức độ rủi ro(degree of risk) tùy theo thời gian đầu tư nhưng mức độ có thể chấp nhận(acceptable degree of risk) tùy thuộc cá tính của chúng ta. Nếu chúng ta thuộc loại thích mạo hiểm(risk taking) thì mức độ chấp nhận rất cao;còn nếu chúng ta thuộc loại không thích mạo hiểm(risk aversion) thì mức độ chấp nhận này thấp hơn.
Quyết định về mức độ đầu tư có thể chấp nhận được sẽ giúp cho chúng ta lựa chọn hình thức đầu tư cho quỹ tiết kiệm mà chúng ta không phải phập phòng lo sợ và mất ngủ.
Sau khi bàn về rủi ro đầu tư, bây giờ chúng ta nhìn vào khía cạnh lạc quan của đầu tư. Đó là những gì đầu tư đem lại cho chúng ta. Lợi nhuận nhiều hay ít tùy theo hình thức đầu tư. Thường thì có các loại lợi nhuận sau đây:
Nếu chúng ta bỏ ra $1,000 mua certificate deposit CD với thời gian 12 tháng và lãi suất 6%, sau một năm số tiền lãnh ra là$1,060. Số tiền $60 là lợi nhuận của đầu tư. Nếu chúng ta cứ tiếp tục mua $1,000 CD mỗi năm nhưng giữ tiền lãi hằng năm lại để chi dùng thì tổng cọng tiền lãi trong 10 năm chỉ là $600.
Nếu thay vì lãnh CD này ra, chúng ta tiếp tục tái đầu tư cả vốn lẫn lời trong thời gian 1năm, số tiền lãnh ra sẽ là $2,594 (Vốn $1,000 và lãi kép là $1,594. Sự sai biệt giữa $1,594 và $600 là sự sai biệt của lãi kép và lãi đơn. Trong thí dụ này, số sai biệt không đáng kể, nhưng trong thí dụ sau này sự sai biệt rõ ràng hơn. Nếu Christopher Columbus đầu tư vào năm 1492 số tiền là $1 với lãi suất đơn là 5% thì ngày nay tiền lời chỉ là $25.40 ($1x5%x508năm), nhưng nếu lãi kép thì số tiền này sẽ lên đến trên 39 triệu đồng. Thí dụ này tuy là không tưởng nhưng cho ta thấy lợi điểm rõ rệt của lãi kép.
Khi đầ tư vào cổ phần, chúng ta có thể có tới hai loại lợi nhuận:dividends va capital gains. Dividends là số tiền công ty chia cho các cổ đông hàng năm.;và capital gains là số sai biệt giá mua cổ phần và giá cổ phần lúc bán ra.
Thí dụ: nếu chúng ta mua 100 cổ phầnvới giá $50/cổ phần. Số tiền đầu tư là $5,000. Mỗi năm, dividends là $2/cổ phần. Trong 10 năm, tổng số dividends là $2,000 ($2x100sharesx10năm). Sau 10 năm, giá mỗi cổ phần là $500. Như vậy số tiền đầu tư lên đến $50,000 và capital gains là $45,000. Tổng số lợi nhuận sau 10 năm đầu tư là $47,000($2,000 dividends và $45,000 capital gains)
Tóm lại, khi lựa chọn hình thức đầu tư (type of investment), chúng ta cần phải cân nhắc giữa mức độ rủi ro và lợi nhuận. Chúng ta không thể hoàn toàn tránh rủi ro mà ta có thể chấp nhận được. Muốn như thế, chúng ta thường phải dùng nhiều phương thức đầu tư(combination of investment types) thay vì tập trung vào một loại.
Trong phần III, chúng tôi sẽ trình bày các hình thức đầu tư (types of investment) và phương pháp phân phối tiền tiết kiệm giữa các loại đầu tư (asset allocation) để đạt mục tiêu là lợi nhuận tối đa với mức độ rủi ro chấp nhận được.
*TIAA,Outreach, December 1999p.3
**Holzer, Bambi,Retire Rich – The Baby Boomer’s Guide to a Secure Future, John Willey & Sons, Inc., New York, p.35.