Bài này đã được dăng trên Tập San Hoài Bão Quê Hương số 5. Quí vị nào muốn mua , hãy gửi $5 cho một số báo về địa chỉ sau đây:Hoài Bão Quê Hương, c/o Tổng Hội CSV/QGHC, 6400 C Seven Corners Place, Falls Church, VA 22044.
Trong phần II của loạt bài này chúng tôi đã trình bày quỹ tiết kiệm gồm hai phần: phần đóng góp (contributions) và phần lợi tức đầu tư (investment earnings). Phần đóng góp tùy thuộc khả năng tài chánh của chúng ta, và trong phần I, chúng tôi đã trình bày các phương thức tiết kiệm giảm thiểu số tiền đóng góp hằng năm mà vẫn đạt được mục tiêu tiết kiệm. Phần lợi tức đầu tư tùy thuộc vào sự sáng suốt của chúng ta trong việc quản lý quỹ tiết kiệm. Trong Phần II , chúng tôi đã trình bày các rủi ro đầu tư (Investment risks) và lợi nhuận đầu tư(Investment earnings). Thông hiểu hai vấn đề này giúp chúng ta sáng suốt trong việc quản lý số tiền trong quỹ tiết kiệm.
Kỳ này, chúng tôi xin trình bày Phần III, tức các phương thức đầu tư (types of investments), và Phần IV, tức các quỹ hổ tương (mutual funds) và cách phân phối số tiền tiết kiệm (asset allocation) giữa các phương thức đầu tư.
Dù chúng ta tham gia hình thức tiết kiệm nào (401k, Tax shelter Plans, IRA, Roth IRA,vv…), chúng ta vẫn phải quyết định lựa chọn phương thức đầu tư. Thường, các tổ chức quản lý các quỹ tiết kiệm để cho các thành viên lựa chọn các phương thức đầu tư sau đây: cổ phần (stocks), trái phiếu (bonds)tiền mặt (cash), các chứng phiếu tương đương với tiền mặt (cash equivalents). Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày sơ lược các phương thức đầu tư nầy.
Đa số các công ty mới thành lập được tổ chức dưới hình thức hợp danh (partnership). Anh em trong gia đình hay bạn bè hùn tiền để lập công ty. Thí dụ như Dick và Mac McDonald hùn tiền mở quầy bán hamburger tại San Bernardino, California vào năm 1948. Sau một thời gian, công việc buôn bán phát đạt, công ty cần thêm vốn để phát triển và phải tìm các nguồn tài trợ phụ thêm (additional sources of capital). Công ty có thể vay tiền (debt capital financing) hoặc bán cổ phần ra đại chúng (equity capital financing). Phần vay tiền sẽ được bàn đến trong phần trái phiếu sau này. Năm 1965, Ray Kroc mua công ty McDonald’s và bắt đầu bán cổ phần ra đại chúng. Vê` phía công ty, khi bán cổ phần ra đại chúng thay vì vay nợ, công ty có lợi là không phải lo trả tiền lời hạn kỳ cho ngân hàng và trả tiền vốn khi đáo hạn. Tuy nhiên, khi bán cổ phần ra đại chúng, công ty phải chấp nhận người ngoài vào thành phần chủ nhân (0wners) của công ty. Về phía người mua cổ phần, với tư cách la` chủ nhân của công ty, cổ đông (shareholders) phải chia sẽ hậu quả tài chánh của sự thành công hay thất bại của công ty.
Công ty có thể phát hành cổ phần và người mua có thể mua cổ phần qua hệ thống thị trường chứng khoán. Hai thị trường chứng khoán to nhất của Hoa Kỳ la New York Stock Exchange (NYSE) và American Stock Exchange (AMEX). Ngoài ra, việc mua bán cổ phần có thể được thực hiện trên các "Over the counter Markets". NASDAD thuộc hệ thống này. Chúng tôi không bàn chi tiết các hệ thống thị trường chứng khoán, vì khi tham gia quỹ tiết kiệm, chúng ta không trực tiếp đầu tư mà chỉ lựa chọn phương thức đầu tư rồi để cho chuyên viên quản lý các quỹ này đảm trách việc mua bán trên thị trường. Nguyên tắc căn bản là giá cổ phần (stock price) của các công ty tùy thuộc vào luật cung cầu. Vào một thời điểm nào đó, nếu số cổ phần cần bán ra và số cổ phần cần mua bằng nhau, thì giá cổ phần không thay đỗi, nếu cung hơn cầu thì giá hạ xuống, nếu cung thấp hơn cầu thì giá gia tăng. Khi chúng ta cần mua hoặc bán cổ phần của một công ty, chúng ta chỉ cần điện thoại cho broker hay cho người quản lý quỹ tiết kiệm là việc mua bán sẽ được thực hiện ngay trong ngày. Đây là ưu điểm của phương thức đầu tư này. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận khi bán cổ phần vì giá cả thay đỗi từng giờ từng phút. Nếu bán ra không đúng lúc chúng ta có thể bị lỗ hay không được lợi nhuận tối đa.
Khi mua cổ phần, cổ đông sẽ được hưởng hai nguồn lợi tức, nếu công ty thành công. Đó là cổ tức(dividends) và vốn gia tăng(capital gains). Cổ tức là số tiền công ty chia cho các cổ đông mỗi năm hay mỗi tam cá nguyệt. Số tiền này được lấy trong số tiền lời (earnings) của công ty. Công ty không nhất thiết phải chia lời đều đặn vì nhiều lúc công ty cần giữ tiền lại để tăng vốn. Thường cổ tức được tính bằng dollars trên mỗi cổ phần. Thí dụ như năm 1996, McDonald’s trả 26cents cho mỗi cổ phần. Nếu chúng ta có 100 cổ phần vào năm 1996, chúng ta sẽ nhận được $26. Phần lợi tức quan trọng hơn là vốn gia tăng(capital gains). Đa số cổ đông chú trọng vào nguồn lợi tức này. Khi công ty làm ăn phát đạt, giá trị của cổ phần gia tăng, vì nhiều người muốn mua cổ phần của công ty và ít người muốn bán ra. Trở lại thí dụ của McDonald’s, nếu chúng ta mua 100 cổ phần của công ty này vào năm 1965 với giá $22.50/cổ phần, chúng ta đầu tư $2,250. Đến năm 1996, sau 30 năm và sau 13 lần cải tổ(Stock split), chúng ta có được 37,180 cổ phần với số vốn đầu tư là 17 triệu dollars. Tính ra thì vốn gia tăng trong khoảng thời gian này là 25%/năm.Đó là không kể tiền cổ tức nhận được trong năm 1996 là $9,666.80 thay vì $26 như đã đề cập ở trên[*]. Nguyên tắc để tối đa hóa số vốn gia tăng (capital gains) là mua thấp bán cao(buy low, sell high).
Một trong những khuyết điểm của cổ phần là sự bấp bênh (uncertainty)trong tương lai. Công ty có thể bị thua lỗ hoặc bị phá sản. Thị trường chứng khoán có thể xuống dốc (bear market) hay khủng hoảng (market crash). Trong những trường hợp này giá cổ phần xuống rất nhanh. Nếu chúng ta mất bình tỉnh hoặc cần tiền bán ra thì sự lỗ lã sẽ rất là tai hại. Khi đầu tư vào cổ phần, chúng ta không bao giờ biết chắc được số tiền đầu tư là bao nhiêu trừ phi lúc chúng ta bán ra. Nếu chúng ta đầu tư quỹ tiết kiệm của chúng ta thì chúng ta phải nghĩ đến dài hạn và đừng để ý đến những thay đổi hằng ngày của giá cả trên thị trường chứng khoán. Chúng ta không nên cảm thấy giàu hơn khi giá tăng mà tiêu xài phung phí và cũng không nên mất ngủ khi thị trường xuống dốc hay khủng hoảng. Theo kinh nghiểm từ trước đến nay, giá chứng khoán có khuynh hướng gia tăng trong trường kỳ.
2.Trái Phiếu (Bonds)
Ngược lại với khuyết điểm trên của cổ phần, khi mua trái phiếu, chúng ta biết chắc chắn số lợi tức chúng ta sẽ thu được trong suốt thời hạn của trái phiếu. Ngoài ra, chúng ta cũng biết trước ngày giờ chúng ta sẽ thu lại vốn. Số lợi tức (tiền lãi) cố định nếu chúng ta giữ trái phiếu cho đến ngày đáo hạn (maturity date). Nếu chúng ta bán trái phiếu trước khi đáo hạn thì ưu điểm này không còn nữa. Trái phiếu thường được mua bán trên thị trường (qua các brokers) và giá cả lên xuống tùy vào chiều hướng của lãi suất và luật cung cầu. Trong trường hợp này, trái phiiếu cũng có rủi ro thị trường như cổ phần.
Trái phiếu là giấy nợ (IOU) do các công ty, chính phủ Liên Bang hay các thị xã (municipalities) phát hành. Các công ty khi cần thêm vốn phát triển và không muốn chia sẽ quyền sở hưũ với người ngoài có thể dùng hình thức vay vốn (debt capital financing) trong đại chúng bằng cách phát hành trái phiếu. Khi chúng ta mua trái phiếu hoặc công khố phiếu (treasury bonds), chúng ta được hưởng một số tiền lãi cố định lãnh hai lần trong năm (semiannual interest) trong suốt thời gian của trái phiếu và chúng ta sẽ thu hồi số vốn khi trái phiếu đáo hạn. Ngoài ra, khi mua trái phiếu của các thị xã chúng ta còn có thể được miễn thuế(tax- exempt bonds). Trên trái phiếu có ghi pháp giá (face value) của trái phiếu, lãi suất (interest rate) và ngày đáo hạn (maturity date). Thường trái phiếu được phát hành với pháp giá là $1,000 (Chính phủ Liêng Bang hay các Thị Xã có thể phát hành trái phiếu với pháp giá thâp hơn ($100, $200, $500). Lãi suất tùy thuộc ba yếu tố: 1)lãi suất trên thị trường lúc phát hành; 2)uy tín về khả năng thanh toán nợ của công ty (credit rating) và ngày đáo hạn (maturity date).
Uy Tín thanh toán nợ của các công ty thường tượng trưng cho mức độ khả năng trả tiền lời và tiền vốn của trái phiếu khi đáo hạn. Các trái phiếu được xếp hạng bởi Standard & Poor’s (S&P) hay Moody’s như sau:
SỰ XẾP HẠNG CÁC TRÁI PHIẾU
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
AA AA- |
Aa2 Aả |
|
|
BBB BBB- |
Baa1 Baa2 Baa3 |
|
Dưới Trung Bình (Below Average) |
BB+ BB BB- |
Ba1 Ba 2 Ba3 |
|
Yếu (Financially Weak) |
B+ B B- |
B1 B2 B3 |
|
Khó Tồn Tại (Nonviable) |
CCC CC C |
Caa Ca C |
Sự xếp hạng trên giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn trái phiếu. Tuy nhiên, sự xếp hạng này có thể thay đổi trong thời gian chúng ta mua trái phiếu đến ngày đáo hạn. Do đó chúng ta phải thận trọng theo giỏi và hành động kịp thời.
Thường công khố phiếu của chính phủ Liên Bang được xếp hạng Tối Ưu (AAA). Các trái phiếu của các Thị Xã(Municipal Bonds) cũng thuộc loại này.
Các trái phiếu hay công khố phiếu được phát hành với thời gian đáo hạn là 5 năm, 10 năm, 20 năm.
Thí dụ: chúng ta có $10,000 và muốn đầu tư vào trái phiếu có pháp giá là $1,000, lãi suất là 8%, thời gian 20 năm. Chúng ta mua 10 trái phiếu ngày 1-10-2000. Chúng ta sẽ nhận được $800 tiền lãi mỗi năm (trả làm 2 lần vào ngày 1 tháng10 và ngày 1 tháng 4) trong 20 năm tới, và đến ngày 1 tháng 10 năm 2020, chúng ta sẽ thu hồi lại số vốn $10,000. Cũng có loại trái phiếu không trả tiền lời mỗi lục cá nguyệt mà trả vốn lẫn lời lúc đáo hạn(Zero-coupon bonds). Nếu chúng ta giữ trái phiếu cho đến ngày đáo hạn, chúng ta không cần lưu ý đến những thay đổi của lãi suất và giá cả; nhưng chúng ta phải lưu ý đến sự giảm sút của mãi lực (loss of purchasing power) trong thời gian của trái phiếu. Thời gian càng dài thì giảm sút mãi lực càng cao. Với tỷ số lạm phát 4% mỗi năm, sau 20 năm, mãi lực của $10,000 chỉ còn có $4.560. Do đó, khi chúng ta thu hồi $10,000 sau khi trái phiếu 20 năm đáo hạn chúng ta chỉ thực sự thu hồi có $4,560.
Do đó, chúng ta cần cân nhắc khi mua trái phiếu. Cổ phần không có khuyết điểm này.
Trong trường hợp chúng ta cần tiền mặt trước ngày đáo hạn, chúng ta có thể đem bán các trái phiếu như các cổ phần, thường qua các brokers. Trong trường hợp này, giá các trái phiếu thay đổi tùy theo lãi suất trên thị trường và luật cung cầu. Thường thì khi lãi suất tăng, giá trái phiếu hạ, và ngược lại.
Thí dụ chúng ta có một trái phiếu với pháp giá (face value) làØ $1,000, lãi suất 8%, đáo hạn ngày 10/1/2020. Pháp giá, lãi suất của trái phiếu và ngày đáo hạn không thay đổi. Một điều thay đổi là giá mà người mua muốn trả khi ta đem trái phiếu đi bán trên thị trường. Nếu lãi suất trên thị trường khi ta bán ra là 9% thì giá trái phiếu là $888 tính như sau:
| ----------------------- | =---------------------- | =---------------------- |
Khi mua trái phiếu, người mua muốn hưởng lãi suất bằng lãi suất trên thị trường (9%), và vì lãi suất trên trái phiếu cố định (8%) trong suốt thời gian của trái phiếu, người mua đòi hỏi phải giảm giá xuống là $888 vì $80/$888=9%.
Nếu lãi suất trên thị trường là 7%, giá của trái phiếu là $1,143:
| --------------------- | =-------------------- | =-------------------- |
Dưới đây là những nguyên tắc căn bản về trái phiếu:
-Khi lãi suất tăng, giá trái phiếu giảm xuống và ngược lại. Lãi suất của trái phiếu càng cao thì phẩm chất càng thấp.
-Thời gian đáo hạn càng lâu, lãi suất của trái phiếu càng cao và giá trái phiếu càng bấp bênh.
-Trái phiếu thường không theo kịp lạm phát.
Trong trường hợp ta giao cho một tổ chức quản lý quỹ tiết kiệm cho chúng ta và chọn trái phiếu như là một phần của các phương thức đầu tư thì các quản trị gia các quỹ này mua bán trái phiếu trên thị trường như cổ phần để có lợi tối đa chứ không giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn . Trong trưởng hợp này, trái phiếu cũng có rủi ro thị trường (market risk) như cổ phần tuy nhiên ít hơn vì sự lên xuống của lãi suất ít thường xuyên và ít trầm trọng hơn.
3.Tiền Mặt và Các Chứng Khoán Tương Đương với Tiền Mặt(Cash and Cash Equivalents).
Khi quyết định đầu tư quỹ tiết kiệm, chúng ta cũng cần phải chú trọng đến loại đầu tư này. Lý do sẽ được trình bày sau. Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu định nghĩa của loại đầu tư này.
Thường chúng ta giữ một số tiền mặt để trang trải những chi phí thường xuyên hay bất thường. Số tiền này có thể được giữ trong tủ sắt trong các checking accounts hay money market accounts tại ngân hàng. Một đặc điểm của tiền mặt là là khả năng thanh toán (liquidity) rất cao. Không phải bất cứ cửa hàng nào cũng nhận thẻ tín dụng (credit card) hoặc chi phiếu cá nhân (personal checks) nhưng bất cứ ai cũng sẵn sàng nhận bạc mặt.
Các chứng khóan nầy là những đầu tư rất ngắn hạn và có khả năng thanh toán gần như bạc mặt. Các loại chứng khoán này gồm:
-Treasury bills
Đây là giấy nợ (IOU) do chính phủ Liên Bang phát hành. Thường mồi treasury bill được bán ra với pháp giá (face value)tối thiểu là $10,000. Thời gian của các treasury bills là 3 tháng, 6 tháng hay một năm. Tiền lãi tùy thuộc nhiều yếu tố như tình hình kinh tế, tình trạng lạm phát và lãi suất trên thị trường. Thời gian đáo hạn càng ngắn thì lãi suất càng thấp. Các người mua treasury bills thường giũ các chứng khóan nầy cho đến khi đáo hạn.
-Commercial Paper.
Đây là một hình thức giấy nợ (IOU) ngắn hạn giống như treasury bills nhưng do các công ty kinh doanh phát hành. Thường thì lãi suất cao hơn treasury bills nhưng kém an toàn hơn.
-Certificates of Deposit
Certificates of Deposit được các ngân hàng phát hành. Khi mua CD chúng ta thỏa thuận để ngân hàng giữ số tiền trong một thời hạn. Sau thời hạn này chúng ta được lãnh vừa vốn vừa lời. Nhưng nếu chúng ta lãnh ra trước hạn định thì sẽ bị phạt một số tiền, thường khá cao so với lãi suất nhận được.
-Money Market Funds.
Money Market Funds là cách gửi tiền vào một quỹ đặc biệt của ngân hàng với mục đích sinh lãi trong ngắn hạn. Ưu điểm của hình thức đầu tư này là không có mức tối thiểu như treasury Bills, commercial paper hay certificates of deposit. Chúng ta có thể đóng góp vào quỹ này bao nhiêu cũng được và rút ra bất cứ lúc nào cũng được. Ngân hàng sẽ dùng số tiền của quỹ này để mua treasury bills, commercial paper hay certificates of deposit. Việc quản lý các quỹ này do các chuyên gia tài chánh đảm trách với nhiệm vụ là kiếm lời tối đa. Thường lãi suất của money market accounts cao hơn lãi suất của saving accounts nhưng thấp hơn treasury bills, commercial paper hay certificates of deposit.
Sau khi trình bày các phương thức đầu tư trên, chúng tôi xin trình bày thành quả(performance) của mỗi phương thức đầu tư.
Stocks
|
Average Annual Total Return***for the period of 5 years ended 12/31/1999 |
Annual Average Total Return*** for the period of 10 years ended12/31/1999 |
CumulativeTotal Return**** for The period of 5 years ended 12/31/1999 |
|
|
Dow Jones Industrial Average Index* |
26.96% |
18.31% |
229.80% |
|
Standard & Poors 500 Index** |
28.56% |
18.21% |
251.12% |
Sources:Fidelity Focus Spring 2000
Giải Thích:
* là chỉ số của 30 Stocks tượng trưng cho các Stocks trên thị trường chứng khoán.
** là chỉ số của 500 Stocks. Vi số Stocks (500) cao hơn Dow Jones
(30)chỉ số nầy phản ảnh đúng các chứng khoán trên thị trường trên Dow Jones
*** là lợi tức trung bình hằng năm
**** là Tổng lợi tức tích lũy
Bonds
|
Average Annual Returnfor the Period of 5 years ended 12/31/1999 |
Cumulative Total Return For the period of 5 years Ended 12/31/1999 |
|
|
Lehman Brothers Aggregate Bonds Index |
7.73% |
45.12% |
|
Lehman Brothers Municipal Bonds Index |
6.91% |
39.69% |
Sources:Fidelity Focus Spring 2000
Market Money Accounts
|
Average Annual Return for 5 years ended 12/31/1999 |
Cumulative Total return For the period of 5 years Ended 12/31/1999 |
|
|
Salomon Brothers 3-month US treasury bills |
5.20% |
28.80% |
Sources:Fidelity Focus Spring 2000
Thí dụ: Nếu chúng ta đầu tư $10,000 vào ngày 12/31/1994 thì đến ngày 12/31/1999, chúng ta sẽ có số tiền sau đây:
|
Phương thức đầu tư |
Lợi Tức Tích Lũy Trong 5 năm |
Vốn Đầu Tư |
Tổng Số Tiền |
|
Stocks |
$22,980 |
$10,000 |
$32,980 |
|
Bonds |
$4,512 |
$10,000 |
$14,512 |
|
Money Market Accounts |
$2,880 |
$10,000 |
$12,880 |
Sự khác biệt về lợi tức trên cho ta thấy ưu điểm của Stocks. Nhưng chúng ta cũng dừng quên là mức độ rủi ro của Stocks cao hơn Bonds hay Money Market Accounts. Do đó, các nhà đầu tư thường không dồn tất cả tiền vào Stocks mà chia tiền đầu tư giữa ba loại trên để giảm thiểu ảnh hưỡng của rủi ro đầu tư. Đây cũng là điều dễ hiểu.
Nếu chúng ta bỏ tất cả trứng vào một rỗ và nếu chúng ta đánh rơi rỗ trứng, chúng ta có thể mất hết. Nếu chia ra làm ba rỗ trứng thì có đánh rơi một rỗ ít ra cũng còn 2 rỗ kia. Danh từ chuyên môn là ‘diversify’. Ngoài lý do cần ‘diversify’, nếu chúng ta tiên đoán là lãi suất sẽ hạ xuống trong 5 năm tới và sẽ làm cho giá trái phiếu (bond price) tăng lên, chúng ta có thể bán bớt cổ phần để chuyển qua trái phiếu. Mặt khác, nếu chúng ta dư đoán trong tương lai tình hình kinh tế xuống dốc, các công ty kinh doanh sẽ gặp khó khăn và cổ phần của các công ty sẽ hạ xuống rất nhiều, chúng ta có thể chuyển một phần Seaticocks sang money market accounts và chờ cho qua cơn khủng hoảng.
Chúng ta có thể đầu tư trực tiếp vào một số công ty (mua cổ phần hay trái phiếu) hay qua trung gian của các Quỹ Hổ Tương (Mutual Funds). Đầu tư trực tiếp đòi hỏi phải có một số kiến thức về chứng khoán, phải theo dõi chặt chẽ thành quả của các công ty, tình hình kinh tế và lãi suất trên thị trường. Việc này đòi hỏi khá nhiều thời giờ và có thể làm cho chúng ta mất ngủ. Ngoài ra, chúng ta có thể vì lầm lẫn mà thua lỗ nặng. Nếu chúng ta đầu tư qua Mutual Funds, chúng ta giao những việc nhức đấu trên cho các chuyên gia, và với kiến thức và kinh nghiệm , các quản trị gia các Mutual Funds có thể làm cho số tiền đầu tư của chúng ta gia tăng tối đa trong khi chúng ta được ăn no ngủ kỹ.
Trong phần IV, chúng tôi sẽ trình bày về Mutual Funds và cách thức phân chia quỹ tiết kiệm (asset allocation) để khi về hưu chúng ta có được một số vốn có thể bảo đảm cho chúng ta một cuộc sống thoải mái trong thời gian còn lại của chúng ta.
----------
Bambi Holzer, Retire Rich-The Baby Boomer's Guide to a Secure Future, John Willey & Sons, New York, p. 124.