CHUẨN BỊ CHO NGÀY VỀ HƯU IV
Phần IV
Bài này cũng được trích trong Tập San số 5 HOÀI BÃO QUÊ HƯƠNG và là bài chót trong loạt 4 bài do tác giả Cao Thị Lễ xuất sắc trình bày. Trong bài này chú trọng đến các Quỹ Hỗ Tương và Cách Phân Phối Số Tiền Tiết Kiệm.
Các Quỹ Hỗ Tương (Mutual Funds)
Chúng ta có thể đầu tư số tiền tiết kiệm của chúng ta một cách trực tiếp bằng cách mua cổ phần hay trái phiếu của các công ty hay đầu tư gián tiếp qua trung gian các quỹ hỗ tương. Đầu tư trực tiếp đòi hỏi một số kiến thức về chứng khóan, phải theo dõi thành quả của các công ty, tình hình kinh tế và lãi xuất trên thị trường. Chúng ta phải làm những quyết định quan trọng như phải mua cổ phần hay trái phiếu của công ty nào, phải mua vào lúc nào, phải bán ra lúc nào và nếu không sáng suốt (mua bán không đúng lúc) chúng ta có thể bị thua lỗ nặng. Khi đầu tư gián tiếp qua các quỹ hỗ tương, chúng ta giao cho các chuyên gia làm những việc này thay cho chúng ta. Như thế, quỹ hỗ tương không phải là một phương thức đầu tư riêng biệt mà chỉ là một phương tiện giúp chúng ta đầu tư như cổ phần, trái phiếu, tiền mặt hay các chứng khoán tương đương với tiền mặt qua trung gian của các công ty đầu tư chuyên nghiệp(investment companies).
a.Định Nghĩa Quỹ Hỗ Tương:
Quỹ Hỗ Tương có thể được ví như là một cái rổ to đựng tiền do nhiều người bỏ vào. Khi bỏ $1,000 vào quỹ hỗ tương,chúng ta nhận được một số phần hùn (mutual shares) tương đương với $1,000 với hy vọng là giá của các phần hùn này sẽ gia tăng trong tương lai, và khi lãnh ra chúng ta sẽ được một số tiền lớn hơn lúc bỏ vào. Mua phần hùn trong các quỹ hỗ tương(mutual funds)khác với gửi tiền vào ngân hàng vì số tiền lãnh ra có thể nhiều hơn hoặc ít hơn số vốn bỏ vào.
Khi một số người bỏ tiền vào một quỹ hỗ tương, chuyên gia quản lý quỹ này dùng tiền của quỹ mua cổ phần, trái phiếu, chứng khóan tương đương với tiền mặt của các công ty.
Thí dụ:
ABC Growth Fund mới được thành lập ngày 12ø/1/2000. Có 1,000 người bỏ mỗi người $1,000 vào quỹ. Đến ngày 12/10/00 tổng số tiền thu được là $1,000,000. Quỹ chia ra làm 100,000 shares. Mỗi share là $10. Nếu chúng ta bỏ vào $1,000, chúng ta nhận được 100 shares.
Ngày 12/11/00 quản trị gia của quỹ đầu tư số tiền này và mua stocks của các công ty dưới đây:
|
Số Cổ Phiếu |
Công Ty Phát Hành |
Giá Tiền Mỗi Cổ Phiếu $ |
Tổng Số Tiền Đầu Tư $ |
|
2,000 |
Mc Donald’s |
50 |
100,000 |
|
1,000 |
Microsoft |
120 |
120,000 |
|
1,000 |
Hewlett-Packard |
92 |
92,000 |
|
1,500 |
Eastman Kodak |
75 |
112,500 |
|
2,000 |
Coca Cola |
47 |
94,000 |
|
4,000 |
MCI |
25 |
100,000 |
|
2,000 |
Digital Equipment |
38 |
76,000 |
|
2,000 |
Merck |
64 |
128,000 |
|
Cash Equivalents |
177,500 |
||
|
Total |
1,000,000 |
Vào ngày 12/11/00
Giá trị mỗi cổ phiếu = $1,000,000 / 100,000 shares = $10/share, giá trị của 100 shares của chúng ta là : $1,000.
Ngày 12/12/00, thị trường chứng khoán rất khả quan, giá của hầu hết cổ phiếu của quỹ đểu gia tăng. Porfolio (Hồ sơ đầu tư) của quỹ trở nên như sau: Giá trị mỗi cổ phiếu là $1,027,500/100,000 shares=$10.275, giá trị của 100 shares của chúng ta =$1,027.50
|
Số Cổ Phiếu |
Công Ty Phát Hành |
Giá Tiền Mỗi Cổ Phần $ |
Tổng Số Tiền Đầu Tư $ |
|
2,000 |
Mc Donald’s |
52 |
104,000 |
|
1,000 |
Microsoft |
124 |
124,000 |
|
1,000 |
Hewlett-Packard |
96 |
96,000 |
|
1,500 |
Eastman Kodak |
76 |
114,000 |
|
2,000 |
Coca Cola |
50 |
100,000 |
|
4,000 |
MCI |
26 |
104,000 |
|
2,000 |
Digital Equipment |
40 |
80,000 |
|
2,000 |
Merck |
64 |
128,000 |
|
Cash Equivalents |
177,500 |
||
|
Total |
1,027,500 |
Source : Retire Rich –The Baby Boomer’s Guide to a Secure Future bay Bambi Holzer, John Willey & Sons, Inc. New York, p.159
Tóm lại, tùy theo sự lên xuống của giá các cổ phiếu trong porfolio trên thị trường chứng khoán, tổng số giá trị của porfolio thay đỗi , giá trị của mỗi share và của số vốn đầu tư của chúng ta cũng thay đỗi theo.
b. Các Quỹ Hổ Tương Sinh Lợi Như Thế Nào?
Khi chúng ta bỏ tiền vào quỹ hổ tương, chúng ta hy vọng là quỹ này sinh lợi để chúng ta lãnh tiền ra, chúng ta sẽ có một số tiền lớn hơn số tiền chúng ta bỏ vào. Như thế quỹ hỗ tương sinh lợi như thế nào? Cũng giống như các đầu tư trực tiếp vào stocks hay bonds, quỹ hỗ tương có hai nguồn lợi nhuận (returns):1)capital gain(vốn gia tăng) và 2)income(lợi tức)do cổ tức(dividends) hay tiền lãi (interests) đem lại. Trong thí dụ trên, chỉ trong hai ngày, lợi nhuận của quỹ là $27,500. Số tiền này là do vốn gia tăng (capital gain) khi giá trị của các cổ phiếu trong porfolio tăng. Thường các quỹ hổ tương phân phát lợi nhuận cho các thành viên theo định kỳ. Thành viên có thể lãnh tiền mặt hay tái đầu tư. Khi chúng ta chọn tái đầu tư, số lợi nhuận được dùng để mua thêm shares và do đó số phần hùn của chúng ta trong quỹ gia tăng. Đa số các thành viên các quỹ hỗ tương chọn tái đầu tư, nhứt là những người đâu tư để tăng trưởng quỹ tiết kiệm dành cho lúc về hưu.
c.Ưu Điểm của Quỹ Hỗ Tương.
Khi đầu tư qua trung gian các quỹ hổ tương chúng ta không cần quyết định phải mua chứng
khoán của công ty nào, lúc nào cần mua vào, lúc nào cần bán ra. Tuy nhiên chúng ta phải quyết định đầu tư vào quỹ hỗ tương nào. Đây không phải là một quyết định dễ dàng. Hiện trên thị trường có trên 5,000 quỹ hỗ tương. Thường chúng ta có thể căn cứ vào danh sách "The Best Performing Mutual Funds" đăng trong các báo dành cho người tiêu thụ (consumers magazine) hay Morning Star Mutual Fund Rating trong internet. Tuy nhiên chúng ta cũng phải cẩn thận vì các xếp hạng này thường căn cứ vào thành quả trong quá khứ(last quarter, last year, last 5 years, last ten years.) . Ngoài ra chúng ta còn phải chú ý đến cá nhân quản trị gia của quỹ nữa. Thành quả của các quỹ hỗ tương phần lớn là nhờ tài năng của các quản trị gia. Một quỹ có thành quả ưu hạng trong quá khứ nhờ một quản trị gia nào đó, khi vị này rời khỏi quỹ, thành quả trong quá khư ùthường vẫn còn được dùng để quảng cáo cho quỹ nhưng thành quả trong tương lai không nhất thiết được bảo đảm vì còn phải tùy thuộc vào tài năng của vị quản trị gia mới nữa. Điều rất may là khi chúng ta tham gia vào các tax-shelter plans hay 401(k), công ty hay cơ quan của chúng ta đã chọn sẵn một vài công ty đầu tư; chúng ta chỉ phải chọn một trong các công ty này và chọn các quỹ hỗ tương do các công ty này quản trị mà thôi.
Có nhiều loại quỹ hỗ tương . Mỗi loại được thiết lập với một mục tiêu rõ rệt và các quản trị gia phải theo đuổi mục tiêu này khi quản trị quỹ. Do đó, trước khi lựa chọn quỹ hỗ tương, chúng ta phải quyết định về mục tiêu của chúng ta và theo đó lựa chọn loại quỹ hỗ tương cho phù hợp.
Các Quỹ Hỗ Tương Có Thể Được Xếp Loại Như Sau:
Quản trị gia các quỹ này tìm cách đạt lợi nhuận thật cao cho porfolio bằng cách đầu tư vào cổ phiếu các công ty có tiểm năng lên giá nhanh chóng (capital appreciation). Họ thường dùng sách lược "mua thấp bán cao" (buy low, sell high). Họ cũng dùng phương pháp "market timing" (canh chừng thị trường) bằng cách đầu tư vào cổ phiếu gia tăng nhưng khi dự đoán là giá cổ phiếu đã tăng lên một đỉnh (peak) và sắp xuống thì họ bán cổ phiếu, chuyển sang tiền mặt và chờ khi cỏ phiếu xuống tận đáy và bắt đầu tăng giá trở lại thì chuyển tiền mặt sang cổ phiếu. Đây là loại quỹ có nhiều rủi ro đầu tư nhất vì khi quản trị gia dự đoán không đúng thì một trong hai trường hợp sau đây có thể xảy ra: 1)chuyển sang tiền mặt quá sớm trong khi giá cổ phiếu tiếp tục gia tăng, như thế sẽ mất cơ hội gia tăng vốn; 2)chuyển sang tiền mặt quá trễ làm giảm vốn đầu tư. Tuy nhiên, bù lại loại quỹ này thường đem lại lợi nhuận rất cao cho thành viên.
Các quỹ loại này đầu tư vào cổ phiếu có tiềm năng đem lại lợi nhuận trong dài hạn, khác với quản trị gia loại quỹ ở đoạn 1, quản trị gia các quỹ này không dùng phương pháp "market timing". Họ mua cổ phiếu của công ty có thành quả cao hơn trung bình và giữ trong một thời gian dài mặc cho giá cả lên xuống trên thị trường.
3.Special Growth Funds:
Đây là các quỹ hỗ tương đầu tư vào cổ phiếu của các công ty thuộc một khu vực đặc biệt của thị trường (special market segment). Các quỹ thuộc loại này gồm có:
Đây là loại cổ phiếu phân looại căn cứ vào tầm vóc (size) của công ty. "Cap" là chữ tắt của market capitalization. Market capitalization là giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu của một công ty(giá một côû phiếu x số cổ phiếu lưu hành). Market capitalization được xem như tượng trưng tầm vóc của một công ty. Large-Cap stocks là cổ phiếu của các công ty có market capitalization trên 5 tỉ dollars. Thí dụ: General Motors, IBM. Cổ phiếu thuộc loại này có mức độ rủi ro ít hơn loại mid-cap và small-cap vì đây là các công ty đã được thành lập lâu đời và hoạt động vững vàng trong ngành. Mid-cap stocks là cổ phiếu của các công ty có market capitalization từ 1 đến 5 tỉ dollars. Thí dụ: Freddie Mac, Nextel Communications Inc.CL.A. Small-cap stocks là cổ phiếu của các công ty có market capitalization dưới 1 tỉ dollars. Thí dụ:Nestcape, Pinnacle Systems. Loại small-cap stocks là loại có rủi ro đầu tư cao nhất.
Một số quỹ hỗ tương có thể tập trung vào một ngành công nghiệp đặc biệt như technology (kỹ thuật), health care (y tế) hay utility (tiện ích công cộng). Tùy theo ngành công nghiệp, các cổ phiếu có mức độ rủi ro và lợi nhuận khác nhau. Thí dụ technology stocks thường có mức độ rủi ro cao nhưng cũng có lợi nhuận cao, trong khi utility stocks thường có lợi nhuận thấp nhưng giá cả ổn định hơn.
Đây là các quỹ hỗ tương hoặc tập trung vào một vùng địa dư nào đó như Á Châu, Nhựt Bản, Thái Bình Dương (Geographic concentration) hoặc bao gồm cổ phiếu của các công ty quốc nội Hoa Kỳ lẫn quốc ngoại (geographic diversification). Loại thứ hai (geographic diversification) tương đối bảo thủ hơn loạoi geographic concentration.
Đây là các quỹ được thành lập theo chỉ số tượng tự như S&P 500 (chỉ số của 500 stocks trên thị trường chứng khoán). Chỉ số S&P 500 được xem như tượng trưng cho thị trường chứng khoán. Thành phần các công ty trong Index Fund Porfolio tương tự như thành phần các công ty trong S&P 500. Các quỹ này được xem là rất rộng rãi (well-diversified) và do đó, mức độ rủi ro thị trường tương đối thấp.
Các quỹ hỗ tương đề cập ở trên nhầm đầu tư vào các cổ phiếu với mục đích đạt lợi nhuận cao nhờ vốn gia tăng (capital gains). Các quỹ hỗ tương thuộc loaọiBalanced Funds hay Growth & Income Funds đầu tư vào cả cổ phiếu lẫn trái phiếu với mục đích đạt lợi nhuận tốt và giảm rủi ro đầu tư. Cổ phiếu đem lại lợi nhuận qua sự tăng trưởng của vốn (capital gains) và trái phiếu đem lại lợi nhuận qua lãi tức. Thành phần trái phiếu trong porfolio đem lại sư ổn định cho quỹ.
Các quỹ thuộc loaọi này không nhằm vào vốn gia tăng (capital gains) mà chỉ nhằm vào lợi tức thường xuyên (ongoing income). Các quỹ này đầu tư vào trái phiếu, công khố phiếu và các cổ phiếu phân chia cổ tức định kỳ (dividend-paying stocks). Rủi ro đầu tư của loại quỹ nầy rất thấp.
Cách phân chia số tiền đầu tư giữa các phương thức đầu tư (cổ phiếu, trái phiếu và tiền mặt) quyết định lợi nhuận và mưc độ rủi ro của việc đầu tư. Do đó, chúng ta phải thận trọng và sáng suốt trong quyết định này đeể đạt được lợi nhuận tối đa với mức độ rủi ro chấp nhận được.
Như đã đề cập ở phần III, cổ phiếu đem lại lợi nhuận cao trong ba phương thức đầu tư. Như thế tại sao chúng ta không đầu tư 100% vào cổ phiếu? Chỉ vì đi đôi với lợi nhuận cao, cổ phiếu cũng đem lại rủi ro đầu tư cao. Để giảm thiểu rủi ro tại sao chúng ta không đầu tư 100% vào tiền mặt (money market)? Vì phương thức đầu tư này đem lại lợi nhuận quá thấp so với hai phương thức kia. Do đó, chúng ta cần phân chia số vốn đầu tư của chúng ta giữa các phương thức đầu tư thay vì tập trung vào một phương thức mà thôi.
Quyết định hân chia vốn đầu tư tùy thuộc vào 2 yếu tố:mức độ rủi ro chấp nhận được (risk tolerance) và thời gian đầu tư (investment time horizon).
Khi đầu tư, ai cũng muốn được lợi nhuận tối đa mà không gặp rủi ro nào hết. Điều này không thể có được. Như thế, chúng ta phải quyết định mức độ rủi ro chấp nhận được và mức lợi nhuận mong muốn. Nguyên tắc đầu tư là:Số lợi nhuận mong muốn càng cao thì mức độ rủi ro chấp nhận cũng phải cao.
Chúng ta có thể trả lời các câu hỏi sau đây để biết mình thuộc loại người đầu tư nào.
Bảng Câu Hỏi
Chọn một câu trả lời thích hợp cho mỗi câu hỏi dưới đây:
b. . Tôi không thoải mái với rủi ro đầu tư, nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận chút ít rủi ro để gia tăng số tiền đầu tư của tôi trong dài hạn.
3.Thời gian đầu tư của anh chị?
4.Lợi nhuận trung bình hằng năm anh chị muốn có được từ quỹ tiết kiệm trong vòng 5 năm tới:
Sau khi trả lời các câu hỏi trên, anh chị tính điểm như sau:
Số trả lời (a) x 1 điểm =……..
Số trả lời (b) x 2 điểm = ……
Số trả lời © x 3 điểm =….
Số trả lời (d) x 4 điểm =…….
Tổng số điểm =………
Nếu tổng số điểm từ 5 tới 10 điểm, anh chị thuộc hạn bảo thủ (conservative investor).
Nếu tổng số điểm từ 11 đến 15 điểm, anh chị thuộc hạng ôn hòa (moderate investor).
Nếu tổng số điểm từ 16 đến 20 điểm, anh chị thuộc hạng dám liều (aggressive investor).
Source: Retire Rich—The Baby boomer’sGuide to a Secure Future by Bambi Holzer, John Willey & Sons, Inc. New York,pp 182-184
Sau đây là bản tóm lược về các phương thức đầu tư:
|
Loại Đầu Tư (Type of Investment) |
Giá Cả Thay Đỗi (Price fluctuation) |
Tiềm Năng Lợi Tức (Potential for Current Income) |
Tiềm Năng Tăng Vốn (Potential for Growth) |
|
Tiền Mặt(cash) |
Rất thấp |
Trung bình |
Rất thấp |
|
Trái Phiều(Bonds) |
Thấp đến trung bình |
Cao |
Thấp |
|
Cổ Phiếu (Stocks) |
Trung bình đến cao |
Thấp |
Trung bình đến cao |
Tùy theo sự xếp hạng khi trả lời 5 câu hỏi trên, anh chị có thể phân chia số vốn đầu tư như sau:
45% cổ phiếu
35% trái phiếu
20% tiền mặt và chứng khoán tương đương với tiền mặt.
60% cổ phiếu
30% trái phiếu
10% tiền mặt và chứng khón tương đương với tiền mặt.
3. Dám liều (Aggressive):
100% cổ phiếu.
Trên đây là sự phân chia giữa ba loại đầu tư căn bản. Trong mỗi loại, chúng ta còn có thể phân vốn một cách chi tiết hơn để gia tăng lợi nhuận và giảm bớt rủi ro của loại này. Dưới đây là ba mô thức do một số chuyên gia đầu tư đưa ra:
45% stocks:
20% large-cap growth
20% large-cap value
5% international equity
35% bonds:
25% intermediate term, government (công khố phiếu hoặc trái phiếu của tiểu bang hay cơ quan của chính phủ đáo hạn trong vòng tư 5 năm đến 15 năm)
10% intermediate term, corporate(trái phiếu của các công ty, đáo hạn từ 5 đến 15 năm)
20% cash:
10% standard money market fund(chứng khón ngắn hạn do công ty tư hay chính phủ Liên Bang phát hành)
10% government money market fund(chúng khoan ngắn hạn do chính phủ Liên Bang phát hành).
60% stocks:
10% large-cap gtowth
10% large-cap value
15% small-cap growth
15% international equity
10% emerging markets
30% bonds:
15% long-term government bonds(đáo hạn từ 20 đến 30 năm)
10% long-term corporate bonds(đáo hạn từ 20 đến 30 năm)
5% bonds/high yield(junk bonds: trái phiếu không được xếp hạng hoặc hạng rất thấp)
10% cash:
10% standard money market fund.
100% stocks:
20% large-cap value
20% large-cap growth
20% small-cap value
20% small-cap growth
15% international equity
5% emerging markets
Source: Retire Rich---The Baby boomer’s Guide to a Secure Future by Bambi Holzer, John Willey&Sons ,Inc. New York,pp 185-187
GIẢI THÍCH:
value stocks: giá cổ phiếu căn cứ trên tích sản (assets) của công ty phát hành.
Growth s tocks: Giá cổ phiếu căn cứ trên tiềm năng lợi nhuận (potential earnings) của công ty.
Sau khi quyết định về sự phân chia vốn đầu tư, chúng ta có thể chọn quỹ hỗ tương có thành phần porfoliothích ứng với sự phân chia của chúng ta. Thí dụ: Fidelity VIP Growth: 100% stocks; Fidelity VIP Asset Manager Porfolio:50% stocks, 40% bonds, 10% short-term and money market.
Nếu có dịp, chúng tôi sẽ trình bày nhu cầu va phương cách theo dõi và quản trị quỹ đầu tư tiết kiệm trước khi về hưu và sau khi về hưu. Ngoải ra, chúng tôi cũng sẽ trình bày các phương thức rút tiền trong quỹ tiết kiệm khi về hưu.
|
Growth begins when we Seaticart to accept our own weakness. The more I want to get something done, the less I call it work. The only one who makes no mistakes Is the one who never does anything. The work will teach you how to do it. Striving for excellence motivates you; Striving for perfection is demoralizing. Friendship is the source of the greatest pleasures, and Without friendseven the most agreeable pursuits become tedious. Kindness is the ability to love people more than they deserve. |