CÁC THỂ ĐIỆU TRONG NGHI LỄ
Các
thể điệu hành tŕ của nghi lễ Phật giáo
Việt nam rất phong phú, ở đây chúng ta chỉ
lượt qua các thể điệu chính như:
xướng, hô, kệ, thán, độc, tán, tụng, tŕ,
niệm.
XƯỚNG
là cách đọc chậm răi những bài kệ, đoạn
kinh ca ngợi Tam bảo bằng giọng trang nghiêm thành
kính.
HÔ
là một điệu ngâm mạnh mẽ đầy hùng
lực với mục đích “chuyển mê khai ngộ”
đưa hành giả vào sự định tâm.
Ví
dụ : Hô thiền hay hô canh được thục
hiện vào trước các buổi tọa thiền sáng
sớm hay chiều tối.
KỆ Cũng là một điệu ngâm
với âm điệu dịu dàng ngân nga để phát
triển ḷng từ bi và trí tuệ.Kệ đại
hồng chung mỗi sáng và tối cũng như kệ
trống vào lúc sáng tinh sương để thức
tỉnh người nghe.
THÁN
là một điệu ngâm
sử dụng làn hơi dài và có tính chất”ai” (bi ai)
để diễn tả cảnh vô thường, sớm
c̣n tối mất. Hơi “ai” ở đây cũng chừng
mực không bi lụy, âm điệu có hơi buồn
để giúp người phản tỉnh đi vào nội
quán.
ĐỘC hay tuyên đọc là cách
đọc chậm rải, rơ ràng, ngân nga ở những
chỗ cuối câu như đọc sớ, đọc
văn tế......Năm điệu trên chỉ do một
người thực hiện, c̣n các thể điệu
dưới đây do đại chúng hành tŕ: Tán, tụng,
tŕ, niệm.
TÁN là một điệu hát ca
ngợi Phật pháp, âm hưởng nhiều của dân
nhạc từng miền. Điệu tán các miền Trung, Nam,
Bắc khác nhau: Tại miền Bắc chịu ảnh
hưởng sâu đậm dân nhạc địa
phương như hát chèo, quan họ.v.v...Tại miền
Nam cũng thế, chúng ta t́m thấy hơi hướng các
điệu ḥ, điệu ru của dân nhạc đồng
bằng sông Cửu long. C̣n ở miền Trung chịu
ảnh hưởng sâu đậm dân nhạc của xứ
Huế pha lẫn ít nhiều nhạc cung đ́nh nên có
rất nhiều điệu tán:
---TÁN RƠI là điệu hát dùng hơi dài
với nhịp lơi, ngân nga trầm bổng để
diễn tả các bài kệ hay một đoạn kinh.
---TÁN XẤP là dùng làn hơi ngắn hơn,
xử dụng nhịp ngắn để diễn tả các
bài tán thán chư Phật.
---TÁN TRẠO cũng dùng làn hơi ngắn
như tán xấp nhưng nhịp mơ đánh trường
canh, đều đặng. Âm điệu có hơi “ai” và
chịu ảnh hưởng sâu đậm của các
điệu ḥ Huế.
TỤNG
là cách đọc lớn
tiếng, trang nghiêm, thành kính, âm điệu trầm
thấp, nhịp điệu đều đặng theo
sự hướng dẫn của tiếng mơ, có thể
tụng theo hai cách:
---Tụng theo hơi
thiền: là tụng đều đặng, không lên
xuống trầm bổng, âm điệu hùng mạnh
nhịp mơ đánh đều và hơi nhanh, khiến hành
giả chú tâm vào lời kinh tiếng kệ,
tập trung tư
tưởng vào ḍng âm thanh liên tục để phát
triển tuệ giác.
---Tụng theo hơi “ai”:
là tụng lên xuống trầm bổng, ngân nga chậm
rải, hành giả quán tưởng đến vô
thường, khổ, vô ngă để phát triển tâm
từ bi cứu độ. Ở đây chúng ta cần phân
biệt giữa tụng và đọc.
Tụng
kinh là phương pháp thiền dùng âm thanh để phát
triển trí tuệ giải thoát. c̣n đọc kinh
để nghiên cứu nghĩa lư thâm diệu của
Phật pháp. Do đó trong khi tụng kinh, việc hiểu
kinh không phải là vấn đề quan trọng, nhưng
vấn đề chính yếu là ở tâm thành, tập trung
hết tư tưởng vào lời kinh tiếng kệ, qua
những âm điệu trầm bổng giúp chúng ta t́m
được sự định tâm là nguồn an lạc
giải thoát. Các bản kinh chúng ta sử dụng phần
nhiều chữ Hán. Các bản dịch này do các Đại
sư uyên thâm Phật pháp và văn tài quán thế chuyển
âm, do đó lời kinh trang trọng, âm điệu dồi
dào, ư tứ sâu sắc. Các bản văn này cũng
được viết theo thể biền văn, tuy là
văn vần, nhưng khi đọc lên có âm điệu
trầm bỗng. Nên người ta đọc kinh bằng
Hán văn dễ cảm mến hơn. C̣n các bản
dịch ra quốc ngữ phần lớn th́ dễ
đọc dễ hiểu, nhưng không giữ
được âm điệu của nguyên văn. Nếu
chúng ta có được một bản dịch không
những lời hay, nghĩa đúng mà c̣n giữ được
âm vận của nguyên tác, th́ đó là một sự
chuyển âm hoàn hảo.
TR̀
là cách đọc liên
tục đều đặng các câu thần chú. Có khi
đọc ra tiếng, nhưng cũng có lúc đọc
thầm. Các câu thần chú là các danh hiệu của các
vị Phật, Bồ tát. Do đó vấn đề
dịch nghĩa là điều không cần thiết. Tŕ chú
là phương pháp trực giác để cảm nhận các
thanh âm linh thiêng của nội tâm và của vũ trụ,
con đường này vượt qua lư trí; tâm tư chỉ
tập trung vào các thanh âm mà không cần đến ngữ
nghĩa. Các câu chú này kết hợp kỳ diệu các âm
lại với nhau để khi đọc lên, âm ba của
các thanh âm này tác động vào các huyệt chính trên
đầu mang lại cho hành giả những cảm giác
sảng khoái, sự kính tín và sự định tâm.
Những âm ba này như tiếng sóng dạt dào, miên man
bất tận, hết đợt sóng này đến
đợt sóng khác tiếp tục vổ mạnh vào tâm
thức của hành giả,cho đến lúc tâm thức si ám
vỡ ra để ánh dương quang của sự giác
ngộ chói sáng như chú gà con phá vỡ vỏ trứng
để bước vào thế giới mênh mông của
sự sống.
Uy
lực của thần chú vô cùng lớn lao, có thể
dứt trừ chướng nghiệp, tiêu tai giải
nạn, tăng trưởng khả năng giác ngộ
giải thoát.
NIỆM có nhiều cách niệm khác
nhau:
---Tụng niệm: là
đọc danh hiệu của các vị Phật, Bồ tát
thành tiếng hoặc niệm thầm.
---Niệm tưởng:
là đọc danh hiệu lên đồng thời quáng
tưởng đến h́nh tướng của vị
Phật hay Bồ tát đó.
---Tŕ danh niệm
Phật: các chùa Việt nam thường hành tŕ phương
pháp này, tụng niệm danh hiệu, có khi niệm với âm
điệu trầm hùng, nhưng cũng có khi niệm
với âm điệu trầm bỗng.
---Ngũ hội niệm Phật: các chùa Trung
quốc có lối niệm này rất hay. Cách niệm khi nhanh
khi chậm, lúc trầm lúc bổng...âm thanh ngân nga, d́u
dặt,khiến người nghe tưởng chừng như
đang thưởng thức thiên nhạc tại thế
giới cực lạc. Sự hành tŕ của niệm
Phật cũng gần như lối tŕ chú, nghĩa là tŕ
niệm đến chỗ”nhất tâm bất loạn”, Các
thanh âm của danh hiệu Phật, Bồ tát vang lên cùng
với sự hiển hiện của các ngài trước
mắt. Hành giả không c̣n thấy người niệm
cũng như đối tượng được
niệm, tất cả ḥa tan vào nhau trong một nguồn
sáng vô biên, những âm thanh trầm hùng bất diệt
như tiếng sóng biển, vang dội đến tận
cùng tâm thức,phá tan đi những vọng tưởng
điên đảo để hiển lộ mặt trời
giác ngộ./.
Next