Lúc mới học Thái Cực quyền, trước hết là phải làm các động tác cho đúng mức tiêu chuẩn, xong rồi, mỗi lúc làm một động tác đồng thời còn phải cần luyện tập vận kình.
Kình điểm của Thái Cực quyền là tùy theo các động tác không ngừng biến chuyển, do đó động tác cần "miên miên bất đoạn" (liên miên không ngừng), "vận kình như trừu ty" (vận kình như kéo tơ).
Giờ đây xin đem các động tác trong thế Lãm Tước Vĩ ra làm ví dụ, nguyên bản các hình, chỉ ra mỗi động tác kình điểm ở chỗ nào, và bộ phận chính yếu ở đâu, để tiện độc giả tham khảo cùng thể hội từng chi tiết
Đã nói kình điểm phía trên, bây giờ xin nói về chỗ xuất phát của kình lực:
Chỗ xuất phát của kình lực là "kỳ căn tại cước" (gốc rễ ở bàn chân), "phát vu thoái" (phát ra ở bắp chân), "chủ tể vu yêu" (chủ tê/ là eo lưng), "hình vu thủ chỉ" (hình hiện ra ở bàn tay ngón tay). Tỷ như thế "án",
![]() |
| hai bàn chân đè trên mặt đất là gốc rễ. Tỷ như muốn đẩy một chiếc xe lôi chứa đầy hàng hóa, tất nhiên hai bàn chân phải đè xuống mặt đất, như mà hai bàn chân giữa không trung không có chỗ nào để tựa, thì muốn đẩy chiếc xe lôi đi khó mà nghĩ ra cách nào, do đó mà nói "kỳ căn tại cước" (lúc luyện quyền sẽ bao quát "thượng bộ, thoái bộ, hoặc đứng nguyên chỗ ém xuống đất). Chân phải cong tới, chân trái duổi ra, là "phát vu thoái". Tỷ như muốn đẩy chiếc xe lôi tới trước, hai bàn chân tuy vẫn đè xuống đất, nhưng cũng còn phải cần nhờ chân trước cong tới và chân sau duổi rạ Đương lúc trọng tâm ở sau chuyển về trước, phần eo hơi hơi hướng lên, rồi sau đó hướng xuống, rồi hướng về phía trước thành một hình cung, để hướng dẫn kình lực và giữ vững động tác có phương hướng về phía trước (còn như những thứ khác như thân thể chuyển động thì lấy eo lưng di chuyển bên trái bên phải để hướng dẫn kình lực và giữ vững phương hướng của các động tác). Đấy gọi là "chủ tể vu yêu", hoặc là "yêu vi xa trừu". Bắp thịt đi qua bộ phận xương sống và lưng do từ từ co rút biến thành từ từ giãn nở, đem kình lực từ từ chuyển đến vai, cùi chỏ, mà đi đến bả bàn tay, đẩy ra ngoài, và nữa là đầu ngón tay cũng có cảm giác là kình lực đi đến, như vậy gọi là "lực do tích phát" (sức từ xương sống phát ra), mà đi đến "hình vu thủ chỉ" (hình hiện ra ở đầu ngón tay) |
![]() | ![]() |
| Đồng thời, biến chuyển thay đổi kình cũng như vậỵ Tỷ như, từ thế bằng chuyển qua thế lý, cũng là đi qua từ bàn chân đến bắp chân đến eo lưng, đem kình điểm nguyên ở xương nhiêu gần bộ phận cổ tay phải (hình bên trái), chuyển qua cổ tay mé bên ngón út, đi đến gần bộ phận cổ tay bên mé xương xích; đem kình điểm nguyên ở bả bàn tay trái, chuyển qua mé bên ngón tay cái và ngón tay trỏ, đi đến bộ phận gần cổ tay bên mé xương nhiêụ Tuy nhiên không phải vì vậy mà hiển lộ ra từ bàn chân đến bắp chân đến eo lưng đến xương sống trước sau mà làm, rõ ràng kế tục; động tác phải là "tiết tiết quán quán" (liên đốt với nhau), "hoàn chỉnh nhất khí" (toàn thể một hơi), do đó vẫn là phải "nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" (động một cái là không có gì là không động, yên một cái là không có cái gì không yên), hiệp điệu nhất trí. Phần ngực và bụng cũng phải theo phần eo kéo theo mà chuyển động tương ứng theo, không thể vì "hàm hung" (thót ngực), "tung khóa" (tung hông) thành ra bỏ qua không nhắc tới, để cho chúng "hàm hung", "tung yêu khóa" một kiểu ngơ ngơ không đụng đậỵ |
Tuy nhiên, kình điểm nêu ra ở đây, không phải là ngay chỗ này mà dùng sức, sử kình hay khẩn trương, mà là vẫn phải yêu cầu bắp thịt phóng tung, động tác chậm rãi, nhu hòa, và cũng cần chiếu theo các yếu điểm chung mà làm. Còn như chuyện vận kình, cũng phải là "tiên tại tâm, hậu tại thân" (trước ở tâm, sau ở thân), dùng ý tập trung ở bộ phận đó, ý đến thì kình đến, ý đến chỗ nào thì chỗ ấy có cảm giác, đấy gọi là phương pháo trau giồi "nội ngoại nhất trí" (trong ngoài nhất trí)
Người mới học như nếu không có giáo sư có kinh nghiệm chỉ giảng trước mặt, thì chỉ cần chiếu theo các yếu điểm của các động tác mà làm cho chính xác, lâu ngày do các động tác thuần thục và chính xác, đường kình này cũng sẽ tự nhiên sãn sinh, cũng biết tự nhiên "thượng hạ tương tùy", "nội ngoại nhất trí", như vậy mới không bị sinh ra hư hỏng. Bởi vì mỗi động tác đều có một lối di chuyển kình điểm nhất định, nếu như nguyên bài quyền chỉ ra thì sẽ rất là phiền hà. Do đó ơ> đây xin cử ra một tỷ dụ cho toàn bài, về sau sẽ không nói lại nữa
| Động tác | kình điểm tay phải | Kình điểm tay trái | Bộ phận chủ yếu |
![]() | ở gần cổ tay bên mé xương xích | ở bả bàn tay bên méngón tay út | ở tay phải |
![]() | chuyển qua chỗ đầu xương xích | chuyển qua chỗ đầu xương nhiêu | đi qua tay trái |
![]() | chuyển qua bả bàn tay bên mé ngón tay út | chuyển qua gần cổ tay mé xương nhiêu | ở tay trái |
![]() | lúc vòng lên ở mé ngón tay cái và ngón trỏ | lúc cùi chỏ chìm xuống qua xương xích tới bả bàn tay bên ngón út | đi qua tay phải |
![]() | đi đến một bên xương nhiêu | đi đến bả bàn tay | ở tay phải |
![]() | đi đến gần cổ tay mé xương nhiêu | tại bả bàn tay | ở tay phải |
![]() | chuyển qua cổ tay mé ngón tay út | chuyển qua mé ngón tay cái và ngón tay trỏ | ở tay phải |
![]() | chuyển qua gần cổ tay mé bên xương xích | chuyển qua gần cổ tay mé bên xương nhiêu | ở tay phải |
![]() | chuyển qua bả bàn tay mé ngón út | chuyển qua mé ngón cái và ngón trỏ | ở tay phải |
![]() | chuyển qua mé ngoài cánh tay | chuyển qua bả bàn tay mé ngón út | ở hai tay |
![]() | chuyển tới gần cổ tay và cánh tay mé ngoài | chuyển tới bả bàn tay | ở hai tay |
![]() | Chuyển qua ngón tay | chuyển qua ngón tay | ở hai tay |
![]() | chuyển qua bả bàn tay bên ngón út | chuyển qua bả bàn tay bên ngón út | ở hai tay |
![]() | chuyển qua bả bàn tay | chuyển qua bả bàn tay | ở hai tay |