Phần 2
Chương 4:
Nhi còn nhỏ nên không nghĩ nhiều đến nỗi cực nhọc của mẹ, mặc dù Nhi cảm nhận
được sự lo toan tất bật của mẹ từ ngày ba qua đời . Chỉ có Thường là lộ vẻ lo âu
trước công việc ngập đầu và sức khỏe ngày càng suy yếu của bà Tuệ .
Anh biết sức mẹ vốn yếu, lại bị viêm phế quản kinh niên, để đeo bám nghề dạy học
mẹ phải cố gắng rất nhiều . Nhưng trước đây mẹ chỉ dạy một buổi, mọi việc dù sao
cũng chưa đến nỗi nào . Chỉ từ khi mẹ phải dạy thêm buổi chiều rồi buổi tối,
tình trạng sức khỏe của mẹ ngày càng xấu đi .
Những tối bà Tuệ phải thức khuya chấm bài, Thường trằn trọc không sao ngủ được.
Anh leo lên giường giả vờ nhắm mắt để mẹ khỏi lo . Nhưng khi đèn tắt, cặp mắt
Thường lại mở thao láo . Anh nằm lắng tai nghe ngóng và mỗi tiếng ho khúc khắc
của mẹ từ nhà ngoài vọng vào đều khiến anh bồn chồn lo lắng.
Bà Tuệ dạy môn toán nên phần bài tập khá nhiều . Dạo này, tối nào bà cũng thức
chấm bài đến khuya . Sáng, năm giờ bà lại phải thức dậy chấm tiếp để kịp trả bài
cho học trò. Thường lặng lẽ theo dõi công việc nặng nhọc của mẹ với một tâm
trạng bất lực.
Đã nhiều lần Thường muốn làm một điều gì đó để giúp đỡ mẹ. Ba mất, Thường là
người đàn ông duy nhất trong gia đình, anh cảm thấy phải có bổn phận chia sớt
một phần gánh nặng với mẹ. Nhưng anh lại chẳng thể làm gì.
Thường đã đến những trung tâm dịch vụ, những nơi giới thiệu việc làm. Nhưng anh
lẳng lặng đến để rồi lẳng lặng ra về. Không có nghề chuyên môn, Thường chẳng thể
xin việc bất cứ nơi đâu . Vả lại, nếu một nơi nào đó đồng ý nhận một người không
nghề nghiệp, họ lại chọn những cô gái "có ngoại hình đẹp" thay vì chọn Thường.
Không nản, Thường lại tiếp tục dò tìm ở những mục "rao vặt, cần người" trên các
báo . Anh hớn hở và vội vã chạy như bay đến những điạ chỉ cần người dạy kèm.
Nhưng lần nào cũng như lần nào, những lời từ chối lịch sự của chủ nhà buộc
Thường đành lủi thủi ra về. Những bậc cha mẹ thường tin tưởng vào trình độ của
một sinh viên hơn là một học sinh lớp mười một như Thường.
Trong lúc hoàn toàn tuyệt vọng với ý định giúp đỡ mẹ, Thường bỗng sực nhớ đến
câu chuyện về chú bé viết thuê xứ Florence trong cuốn "Tâm hồn cao thượng". Tuy
đọc đã khá lâu, đến bây giờ Thường vẫn nhớ như in những chi tiết cảm động của
câu chuyện. Một người cha già, để kiếm thêm tiền nuôi gia đình, phải nhận việc
chép tên và địa chỉ những người mua sách báo dài hạn cho một nhà xuất bản nọ.
Đêm đêm phải thức viết, sức khỏe ông càng ngày càng mòn mỏi . Người con muốn
giúp đỡ cha, cứ đợi đến khuya khi cha đã mệt mỏi lê bước vào phòng ngủ, liền rón
rén leo xuống khỏi giường và lần vào phòng làm việc của cha để lặng lẽ viết thay
cho cha bằng những nét chữ bắt chước y hệt. Ngày tháng trôi qua, trong lúc người
cha vui mừng vì tốc độ công việc tăng lên, tiền kiếm được khá hơn thì người con
lại đâm ra uể oải, lơ đễnh trong học tập vì thiếu ngủ. Và tất nhiên, cậu thoạt
tiên bị cha trách móc, sau đó là quở mắng và cuối cùng bị cha thờ ơ ghẻ lạnh.
Tuy rất đau khổ, cậu bé vẫn âm thầm chịu đựng và tự an ủi dù sao hành động bí
mật của mình cũng giúp cha cậu vui thích với ý nghĩ rằng ông vẫn còn khỏe mạnh.
Chỉ đến khi, vào một đêm nọ, cậu sơ ý chạm tay vào một cuốn sách làm nó rơi
xuống đất khiến cha cậu giật mình tỉnh giấc và tò mò vào phòng, chỉ đến lúc đó,
bắt gặp cậu đang tập trung đầu óc say sưa viết hết mảnh giấy này đến mảnh giấy
khác, ông mới chợt hiểu tấm lòng đẹp đẽ và nỗi oan ức đáng thương của con mình...
Cậu chuyện đột nhiên trở về trong trí nhớ khiến Thường suy nghĩ miên man. Hay là
mình bắt chước cậu bé nọ âm thầm giúp đỡ mẹ, Thường nhủ bụng. Nhưng khác với
nhân vật trong truyện, mình sẽ cố gắng học tập tốt để mẹ khỏi buồn phiền, lo
lắng. Tất nhiên mẹ sẽ không hay biết. Sau những lúc thức khuya chấm bài, bao giờ
mẹ cũng ngủ rất say . Mẹ sẽ không biết gì hết.
Ý định thoạt đầu còn phân vân, nhưng những tiếng ho húng hắng của mẹ đã nhanh
chóng thôi thúc Thường hành động. Tối đó, anh nằm thao thức, dỏng tai nghe ngóng.
Đợi cho bà Tuệ mệt mỏi rời bàn vào phòng ngủ, anh sè sẹ leo xuống khỏi giường và
lần bước ra phòng ngoài . Không dám bật điện vì sợ gây chú ý, Thường lặng lẽ
thắp cây đèn dầu đặt trên đầu tủ rồi cầm cây đèn tù mù trên tay, anh hồi hộp
tiến lại bàn làm việc của mẹ.
Thường rón rén ngồi vào bàn và bắt đầu xem xét xấp bài truớc mặt một cách thận
trọng. Đọc qua đề toán, Thường thở phào khi nhận ra đó là bài tập đại số lớp
mười . Anh nhanh chóng hình dung ra cách giải và cẩn thận lần giở những bài tập
mẹ đã chấm, xem xét và ghi nhớ kỹ lưỡng cách cho điểm và sửa lỗi trên từng bài .
Sau đó, Thường thu hết can đảm cầm lên cây viết đỏ trên bàn và bắt đầu chấm tiếp
xấp bài dang dở của mẹ. Anh nhủ bụng: cũng may là mẹ dạy toán, chứ nếu mẹ dạy
văn, hẳn mình sẽ không dám bịa ra những lời phê trên bài tập của học sinh!
Bà Tuệ đem về nhà hai xấp bài của hai lớp khác nhau . Một xấp chấm dở, xấp kia
bà chưa đụng tới . Dĩ nhiên Thường không dám rớ vào xấp bài còn để trắng. Ngay
xấp bài bà Tuệ đang chấm dở, Thường cũng không dám chấm hết. Làm như vậy, bà Tuệ
sẽ phát hiện ngay . Chấm khoảng gần hai mươi bài, khi xấp bài đã vơi hơn phân
nửa, Thường thở phào buông viết và loay hoay xếp tất cả lại cho ngay ngắn và đặt
vào đúng vị trí cũ. Xong, anh tắt đèn, đem cất trên đầu tủ và nhón gót lần vào
phòng ngủ.
Thường đặt lưng xuống giường, người mệt mỏi, mắt díp lại nhưng chưa bao giờ anh
thấy lòng thanh thản đến thế.
Chương 5:
Hơn nửa tháng đã trôi qua kể từ ngày Thường quyết định hành động theo gương
cậu bé xứ Florence . Thoạt đầu, Thường còn lo lắng, thấp thỏm nhưng rồi thấy mẹ
chẳng phát giác ra, dần dần anh cảm thấy yên tâm. Và từng đêm, từng đêm, Thường
vẫn lặng lẽ tiếp tục công việc của mình.
Bà Tuệ quả chẳng hay biết gì. Bận rộn và mệt mỏi trước các buổi dạy kế tiếp nhau,
lại không mảy may ngờ vực, chẳng bao giờ bà để ý cái bài tập mà bà tiếp tục chấm
vào sáng sớm hôm sau có thực là đã nằm kế ngay theo cái bài tập bà đã kết thúc
vào tối hôm trước hay không. Hơn nữa, khi chấm bài giúp mẹ, Thường đã cố gắng
bắt chước y hệt phong cách của mẹ, từ phương pháp cho điểm đến cách viết những
con số với những nét móc mềm mại, cả những dấu gạch chéo bên dưới những phép
tính sai .
Những ngày đó, Thường thật sự ngạc nhiên trước những cảm xúc kỳ lạ mà mình trải
qua . Anh thấy dậy lên trong lòng một niềm vui lặng lẽ chưa từng biết. Mặc dù
không đem lại cho mẹ những lợi ích vật chất cụ thể như cậu bé xứ Florence đã làm,
nhưng Thường cũng nhận ra việc làm âm thầm của mình đã giúp mẹ có nhiều thời giờ
hơn vào mỗi buổi sáng. Trước đây, sau khi thức dậy vào lúc năm giờ, bao giờ bà
Tuệ cũng vội vã ngồi vào bàn và dán chặt mình ở đó, xem xét giáo án và tiếp tục
chấm nốt các xấp bài cho kỳ hết để rồi chỉ kịp ăn uống qua loa trước khi lật đật
ra khỏi nhà. Cũng có lúc, bài vở nhiều, bà vội vàng đến lớp mà chẳng có thời
gian đụng đến chén cơm chiên Nhi đã đăt. sẵn trên bàn, cạnh tay bà.
Nhưng từ ngày Thường lén lút chia sớt một phần khối lượng công việc, bà Tuệ có
tỏ ra thảnh thơi hơn chút đỉnh. Bà không còn bỏ bữa ăn sáng đạm bạc, điều thỉnh
thoảng vẫn xảy ra trước đây . Thậm chí bà còn có được dăm mười phút ngắm mình
trong gương, sửa lại mớ tóc rối hoặc bẻ lại cái cổ áo chưa được phẳng phiu, ngay
ngắn, cũng như kịp dặn Nhi mặc thêm áo lạnh hoặc bảo Thường trưa đi học về ghé
cửa hàng mua một món gia dụng lặt vặt nào đó.
Dĩ nhiên bà Tuệ không chú ý, cũng không có thì giờ để chú ý, những giây phút thư
thả hiếm hoi kia từ đâu ra . Công việc và trách nhiệm đối với gia đình đã cuốn
lấy bà như một cái đĩa quay cuốn lấy dây xích. Chỉ trừ khi bà bị đứt tung vì quá
sức chịu đựng, còn thì bà chỉ biết tất bật quay theo những vòng quay lạnh lùng
và cố định, không có đủ sức lực và thời gian để ngạc nhiên về bất cứ điều gì.
Thường là người hay lo nghĩ. Sự giáo dục nghiêm ngặt cũng như hoàn cảnh không
may của gia đình đã tạo cho anh một tính cách như thế. Vì vậy, sự vô tâm của mẹ
gây cho anh nhiều cảm giác trái ngược nhau . Vừa mừng vì không bị mẹ phát hiện,
Thường vừa cảm thấy lo buồn vì điều đó quả thật trái với sự nhạy cảm xưa nay của
mẹ . Anh hiểu nỗi lo toan cực nhọc đã khiến tâm trí mẹ chậm chạp hơn xưa . Càng
nghĩ ngợi, Thường càng cảm thấy cần phải giúp đỡ mẹ và anh lại háo hức chờ đêm
xuống để lẻn vào căn phòng làm việc thân thuộc, để thắp lên ngọn đèn dầu tù mù
và ngồi đối diện hằng giờ với những bài tập chi chít những chữ số.
Thỉnh thoảng, Thường cũng gặp khó khăn, nhất là khi anh phải ngồi trước những
bài tập của lớp mười một, lớp Thường đang học. Có những điều anh chưa nắm vững,
thậm chí có những điều anh chưa học qua . Những lúc ấy, Thường phải tập trung
đầu óc xem kỹ những bài giải đúng nhất, những bài mẹ đã chấm qua và cho tới điểm
mười để ghi nhớ cách giải tối ưu nhất.
Mặc dù cẩn thận và chú tâm hết mức, đôi khi Thường không tránh khỏi nhầm lẫn,
nhất là khi anh chấm những bài sau cùng, lúc mắt đã muốn díp lại mà lòng thì
muốn nấn ná chấm thêm. Như mới đây, khi chấm các bài tập về giải bất phương
trình mũ, không hiểu Thường trông gà hóa cuốc thế nào mà một bài giải đúng hoàn
toàn lại bị anh cho điểm bốn.
Có lẽ Thường sẽ không hay biết gì về sai sót của mình nếu tối đó trong bữa ăn bà
Tuệ không than thở:
- Lúc này mẹ bắt đầuu lẩn thẩn rồi hay sao ấy! Một bài tập không thể nào chấm sai
mà mẹ lại chấm sai! Đến khi học trò đứng dậy thắc mắc, mẹ mới biết!
Rồi bà thở dài, buồn bã:
- Trong đời dạy học,, đây là lần đầu tiên mẹ bị học trò khiếu nại!
Hôm đó bà Tuệ buông đũa sớm. Có lẽ nỗi bứt rứt khiến bà không cảm thấy ngon
miệng. Trong lúc đó, Thường cố tỏ ra bình tĩnh. Nhưng anh và cơm mà miệng nhạt
thếch. Vẻ khổ tâm của mẹ khiến lòng anh quặn thắt. Anh hiểu, không phải mẹ lẩn
thẩn mà chính anh lẩn thẩn. Chính sự nhầm lẫn tại hại của anh đã làm mẹ dằn vặt.
Anh không ngờ để giúp đỡ mẹ, vô tình anh đã làm mẹ buồn lòng.
Tối đó, Thường nằm trằn trọc trên giường, lòng tràn ngập hối hận. Nửa khuya, anh
thức dậy lần vào phòng làm việc của mẹ . Anh đến bên bàn với quyết tâm sẽ không
để xảy ra sai sót lần thứ hai . Anh lại vớ lấy xấp bài trước mặt và lần này,
trước khi hạ bút cho điểm, anh dò đi dò lại thật kỹ lưỡng.
Nhưng không phải Thường muốn là được. Một tuần lễ sau, tai họa lại ập đến. Lần
này mọi chuyện xuất phát từ môn hình học với một đề toán cực kỳ đơn giản về
phương pháp xác định tâm hình cầu ngoại tiếp tứ diện. Thường không hiểu tại sao
anh lại quờ quạng đến mức có thể cho điểm chín một bài tập gần như vẽ sai hoàn
toàn.
Sự vô ý của Thường dẫn đến việc lần thứ hai bà Tuệ bị học trò khiếu nại . Không
phải nạn nhân may mắn của Thường khiếu nại mà là đứa ngồi cạnh. Bà Tuệ thuật lại
tin đó trong bữa cơm và ngậm ngùi kết luận:
- Mẹ lẩm cẩm thật rrồi! Chỉ trong vòng một tuần lễ, mẹ đã nhầm lẫn đến hai lần,
lại là những nhầm lẫn sơ đẳng nhất!
Vẻ thất vọng hiện lên trên mặt mẹ khiến Thường ray rứt vô cùng. Anh hiểu mình đã
mắc phải những sai sót khó thể tha thứ, những sai sót đã khiến mẹ đâm ra mất tự
tin. Đã mấy lần, Thường định mở miệng thú thật hết mọi chuyện nhưng rồi anh cảm
thấy ngần ngại . Nếu anh tiết lộ bí mật, hẳn anh chẳng còn dịp nào giúp đỡ mẹ.
Chắc chắn mẹ sẽ không để cho anh tiếp tục hành động theo ý mình. Mẹ sẽ cấm. Và
như vậy, anh sẽ lại tiếp tục chứng kiến sự tất bật, vội vàng của mẹ bằng ánh mắt
lo âu và bất lực. Đang đắn đo nghĩ ngợi, Thường bỗng giật thót khi nghe mẹ thổ
lộ:
- Có lẽ mẹ xin nghỉ d𓏹y . Mẹ không muốn tiếp tục đứng trên bục giảng khi học trò
đã bắt đầu mất tin cậy nơi mẹ . Mẹ sẽ tìm một công việc khác...
Thường không ngờ sự thể lại xoay ra như vậy . Những lời thú nhận chân thành và
chua xót của mẹ khiến anh không còn một chọn lựa nào khác. Thường hốt hoảng kêu
lên:
- Không, không! Mẹ không thể ngghỉ dạy!
Bà Tuệ nhìn Thường bằng ánh mắt ngạc nhiên:
- Sao vậy con ? Sao lại không tthể ? Chẳng lẽ con muốn mẹ tiếp tục lên lớp và
tiếp tục phạm phải những sai sót trước mặt học trò hay sao ?
- Không! Mẹ không sai sót! - Thư;ờng nói và anh nghe cổ mình như nghẹn lại -
Chính con đã chấm những bài đó. Chính con đã chấm sai chứ không phải mẹ.
Trong một thoáng, bà Tuệ chẳng hiểu Thường muốn nói gì. Bà ngơ ngác:
- Con nói sao ? Tại sao lại dínnh dáng đến con ở đây ?
- Tại vì con...
- Con sao ?
Biết không thể giấu, sau một thoáng ngập ngừng, Thường thu hết can đảm rụt rè
thú nhận hết mọi chuyện. Xúc động, áy náy, Thường chỉ thốt được từng tiếng một.
Chưa bao giờ Thường cảm thấy khó khăn khi nói chuyện với mẹ như vậy . Bà Tuệ
lặng im nghe, bất động, suy tư . Ngay cả khi Thường đã nói xong, bà cũng chẳng
thốt một tiếng nào . Bà ngồi như hóa đá, chẳng biết nghĩ ngợi gì, chỉ thấy trên
đôi mắt vốn nghiêm nghị, khắc khổ xưa nay những giọt lệ đang lặng lẽ ứa ra và
chậm rãi lăn dài trên má.
Mãi một hồi lâu, bà mới quay sang Thường và dịu dàng nói, giọng âu yếm xen lẫn
trách móc:
- Cảm ơn con. Cảm ơn con rất nhiều! - Bà hắng giọng và khẽ đưa tay chùi nước mắt
- Nhưng dù sao mọi chuyện cũng phải chấm dứt kể từ hôm nay . Ở đời, mỗi người
đều có một bổn phận. Con phải lo học tập. Đó là bổn phận của con, Thường ạ!
- Dạ .
Thường dạ khẽ và cảm thấy nhẹ nhõm như vừa cất được một gánh nặng trên người .
Thế là mẹ không quở trách gì mình! Mẹ đã bỏ qua, không những thế, mẹ còn cảm ơn
mình nữa! Mẹ thật tuyệt vời! Chỉ có điều từ nay mình chẳng còn mong gì chia sẻ
nỗi vất vả của mẹ nữa . Mẹ sẽ lại bươn chải một mình. Mẹ sẽ gầy yếu . Tội nghiệp
mẹ biết bao!
Chương 6:
Những ngày sau đó, Thường lại lang thang đi kiếm việc làm thêm. Mẹ bảo bổn
phận của Thường là học tập. Thường cũng biết thế; nhưng anh lại không thể dửng
dưng nhìn mẹ quần quật suốt ngày đêm. Anh tự nhủ: mình đi làm thêm, nhưng mình
sẽ cố gắng học tập tốt. Như vậy, hẳn mẹ sẽ chẳng buồn lòng vì mình.
Nhưng Thường lại chẳng thể tìm việc ở bất cứ nơi đâu . Như những lần trước, anh
rảo đến rã cẳng qua khắp các đường phố để rồi lại thất thểu lê gót về nhà, người
mỏi nhừ, lòng ê chề, tuyệt vọng.
Trong một lần lang thang vô vọng như thế, tình cờ Thường gặp chú Kiến, một người
bạn trong cánh thợ hồ của ba trước đây .
Thoạt tiên, Thường không nhận ra chú. Chú mặc một chiếc quần dạ cũ xì, với chiếc
áo ca-rô bạc màu cũng cũ không kém. Chỉ có chiếc kê-pi in hàng chữ Afnor đội
trên đầu là mới . Khi Thường gặp chú, chú đang dắt chiếc xe kẹo kéo đi ra từ một
con hẻm nhỏ, với chiếc thùng gỗ giăng đầy những đèn màu chớp nháy và tiếng nhạc
xập xình phát ra từ cặp loa tăng âm hết cỡ.
Chú Kiến nhìn thấy Thường trước. Chú kêu:
- Thường!
Nghe tiếng kêu, Thường ngạc nhiên quay lại và sau khi chớp mắt hai, ba cái,
Thường mới nhận ra người quen và mừng rỡ chạy lại:
- Chú!
Chú Kiến lau tay vào một miếng giẻ treo cạnh thùng gỗ rồi ôm chặt lấy vai Thường,
vồn vã hỏi:
- Cháu đi đâu đây ? Sao, d#7841;o này mẹ cháu khỏe không ?
- Dạ, mẹ cháu vẫn kh𓐧e! - Thường liếm môi, ngập ngừng - Nhưng... không thật khỏe
lắm! Dạo này mẹ cháu phải đi dạy thêm buổi chiều và buổi tối ...
Chú Kiến chép miệng:
- Chà, thế thì gay quá! Hẳn là mẹ cháu rất vất vả!
Giọng chú Kiến bùi ngùi . Chú nắn nhẹ vai Thường:
- Hai anh em cháu vẫn đi h𓐇c đều đấy chứ ?
- Dạ, cháu và Nhi vẫn đi hhọc bình thường.
- Thế còn hôm nay cháu đi đ;âu đây ?
Chú Kiến nhắc lại câu hỏi khi nãy khiến Thường đột nhiên lúng túng. Anh ngập
ngừng:
- Dạ, cháu đi ... tìm việcc làm.
- Tìm việc làm ? - Chú Kiến tr&ố mắt - Cháu nói cháu vẫn còn đi học kia mà!
Thường gãi đầu:
- Cháu chỉ tìm việc làm thêm buuổi chiều thôi . Cháu muốn giúp đỡ mẹ cháu .
- Thì ra vậy! - Chú Kiến g𓋙t gù - Thế cháu đã tìm được việc gì chưa ?
Thường đỏ mặt:
- Dạ chưa ạ! Cháu ch𓌇ng có nghề ngỗng gì nên chẳng nơi nào chịu nhận.
- Gay go đấy! - Chú Kiến hhắng giọng - Thời buổi này, có nghề chuyên môn kiếm
việc làm đã khó, huống gì tay trơn như cháu! Hay là như thế này ...
Đang nói, chú Kiến bỗng ngừng bặt khiến Thường phải buộc miệng:
- Sao ạ ?
Chú Kiến tỏ vẻ ngần ngại:
- Ý chú muốn nói là nếu cháu khhông thấy ngại, cháu đi bán kẹo kéo với chú.
Thường tròn mắt:
- Đi bán kẹo kéo ?
- Cháu ngạc nhiên lắm sao ? M#7897;t buổi đi học, một buổi đi bán kẹo kéo, giống như
chú vừa làm thợ hồ vừa bán kẹo kéo vậy!
- Nhưng cháu ... cháu ... - Thư#7901;ng khẽ liếc chiếc xe cồng kềnh, sặc sỡ của chú
Kiến, giọng lúng túng - Cháu ... cũng không biết nữa!
Dường như thông cảm tâm trạng của Thường, chú Kiến ôn tồn hỏi:
- Cháu mắc cỡ phải không ?
Thường ngượng nghịu thú thật:
- Dạ . Cháu sợ đi bán nh#432; thế này, ra đường con nít bu quanh, cháu mắc cỡ lắm.
Chú Kiến vỗ vai Thường, trấn an:
- Cháu đừng sợ . Chú khôngg bảo cháu phải trang bị như chú đâu . Đi bán kẹo kéo,
muốn được con nít bu quanh đâu có dễ. Phải có đèn xanh xanh đỏ đỏ, phải có dù
nhiều màu, rồi phải mua chiếc cát-xét, cặp loa, thêm cái bình ắc-qui nữa, sắm
tất cả tốn mấy trăm ngằn chứ đâu có ít. Cháu thì khỏi cần trang bị như vậy .
Cháu khỏi cần phải đi rảo khắp các hang cùng ngõ hẻm như chú. Cháu chỉ cần sắm
một cây kẹo, đèo trên xe đạp, chiều chiều tới bán trước cổng trường cấp một là
được rồi .
Hình ảnh nghề bán kẹo kéo "cố định" do chú Kiến vẽ ra quả thật không đến nỗi "khủng
khiếp" như nghề bán kẹo kéo "di động" với đủ trò nổi đình nổi đám như Thường
hằng thấy . Chở một cây kẹo kéo đến trước một cổng trường nào đấy, bán cho lũ
trẻ con trước lúc vào học. Rồi kiếm một bóng mát ngồi đọc sách hoặc ôn bài chờ
bọn trẻ ra chơi . Khi chúng vào lớp, lại ngồi đợi kẻng tan học để bán nốt khúc
kẹo còn lại trước khi thanh thản đạp xe ra về. Nếu chỉ đơn giản và kín đáo như
vậy Thường nghĩ mình có thể làm được. Dù sao thì cũng không còn cách nào khác,
nếu mình muốn giúp đỡ mẹ . Vấn đề còn lại là vốn liếng. Thường nhìn chú Kiến,
băn khoăn hỏi:
- Để làm như chú nói, cháu cần phải có bao nhiêu tiền hả chú ?
- Nghề này vốn liếng ch#7859;ng bao nhiêu đâu! Cháu bán một buổi, chỉ cần một ký
đường, một ký đậu, vài ống bột màu là đủ. Chừng mươi, mười lăm ngàn. Còn việc
nấu đường rồi đánh thành kẹo, chú có thể làm giúp cháu được.
Thường nhíu mày, lẩm bẩm:
- Mươi, mười lăm ngàn...
Quả thật số tiền này không phải là lớn, nhưng vẫn làm cho Thường băn khoăn.
Trong tình cảnh hiện nay, anh khó mà xoay ra một món tiền như vậy . Xin mẹ thì
Thường không dám. Nếu mẹ biết được Thường định đi bán kẹo kéo, chắc chắn mẹ sẽ
rầy la và ngăn cản quyết liệt. Vả lại, chưa chắc mẹ đã có tiền. Nghĩ tới nghĩ
lui một hồi, Thường vẫn chưa tính được kế gì.
Nhìn vẻ mặt của Thường, chú Kiến biết ngay điều anh đang lo nghĩ. Chú cười nói:
- Cháu đừng lo về chuy𓐟n tiền bạc. Chú sẽ cho cháu mượn vốn. Nhiều thì chú không
có chứ mười lăm ngàn chú giúp cháu được. Nghề này coi vậy chứ cũng dễ ăn lắm.
Một lời một mà!
Nhiệt tình của chú Kiến khiến Thường vô cùng xúc động. Anh cầm chặt tay chú,
giọng cảm kích:
- Cảm ơn chú, chú tốt v𓁋i cháu quá!
Chú Kiến cười hiền lành:
- Có gì đâu mà cháu phải c𓉡m ơn! Chú là bạn của ba cháu, nay gia đình cháu gặp
khó khăn, chú giúp cháu là chuyện bình thường mà!